Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Quốc Tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Quốc Tế. Hiển thị tất cả bài đăng

31 tháng 8, 2011

Dấu ấn ngoại trên máy bay tàng hình Trung Quốc

31 tháng 8, 2011
0 Nhận Xét :

Trung Quốc đang liên tục tung ra hình ảnh bay thử của chiếc Chengdu J-20 để chứng tỏ sự phát triển vũ khí của nước này, trong khi giới chuyên gia phỏng đoán đây chỉ là sản phẩm "học hỏi công nghệ" từ Nga và Mỹ.

Máy bay Chengdu J-20 của Trung Quốc đang thử nghiệm. Ảnh: Xinhua.
Máy bay Chengdu J-20 của Trung Quốc đang thử nghiệm. Ảnh: Xinhua.

Mẫu tiêm kích Chengdu J-20 (còn gọi là Tiêm 20) do Tập đoàn công nghiệp hàng không Thành Đô chế tạo là loại máy bay tiêm kích tàng hình hai động cơ. Giới chức quân đội Trung Quốc hy vọng dòng máy bay thế hệ thứ 5 có khả năng qua mặt radar này sẽ được đưa vào phục vụ trong khoảng thời gian 2017-2019.

Sau nhiều lần bay thử, Bắc Kinh vẫn chưa công bố chi tiết kỹ thuật của chiếc J-20, nhưng dựa trên nghiên cứu các bức ảnh, tạp chí Aviation Week đã đưa ra nhận định về các thông số của loại máy bay này. Đó là phi cơ một chỗ ngồi có hai động cơ phản lực, kích thước lớn và nặng hơn dòng máy bay cùng loại là Sukhoi T-50 của Nga và F-22 Raptor của Mỹ.

Trung Quốc trước đây từng sản xuất nhiều loại máy bay chiến đấu và theo truyền thống vẫn dựa trên việc phát triển các mẫu máy bay thời Liên Xô. Chiếc J-20 được coi là đỉnh cao trong chiến thuật "học hỏi công nghệ" từ nước ngoài khi chế tạo máy bay của Trung Quốc.

Theo các chuyên gia, chiếc Chengdu J-20 mà Trung Quốc đang thử nghiệm mô phỏng từ mẫu thiết kế máy bay tàng hình Mikoyan 1.44 (MiG 1.44) của Nga vốn chưa từng được chế tạo. Một nguồn tin thân cận với ngành công nghiệp quốc phòng Nga nhận định thêm, sự tương đồng cho thấy có thể công nghệ trên chiếc Mikoyan đã được chuyển vào tay các nhà thiết kế vũ khí Trung Quốc.

Nguồn tin trên nói thêm có thể Trung Quốc đã được tiếp cận với các tài liệu liên quan đến thiết kế Mikoyan 1.44 nhưng không rõ sự chuyển giao này có hợp pháp và qua con đường chính thức hay không. Tuy nhiên, phát ngôn viên của nhà sản xuất Nga MiG là Yelena Fyodorova phủ nhận phỏng đoán cho rằng tài liệu về dự án Mikoyan 1.44 đã được cung cấp cho Trung Quốc. Bộ Quốc phòng Trung Quốc cũng bác tin về sự chuyển giao công nghệ với Nga liên quan đến J-20.

Giới phân tích nhận định sự hỗ trợ của Nga có thể giúp Matxcơva có ảnh hưởng tới năng lực quốc phòng đang lên của Trung Quốc và Matxcơva âm thầm hỗ trợ Bắc Kinh cạnh tranh với các cường quốc quân sự khác. Nga và Trung Quốc vốn có mối quan hệ quân sự trong nhiều năm qua vì Bắc Kinh từng là khách hàng lớn mua các sản phẩm quốc phòng từ Matxcơva. Những năm gần đây, Trung Quốc đã tự sản xuất được nhiều sản phẩm loại này nên đơn đặt hàng từ Nga giảm mạnh, nhưng hai nước vẫn duy trì mối quan hệ quân sự chặt chẽ.

Ảnh dựng trên máy tính về mẫu MiG1.44 chưa từng được sản xuất của Nga. Ảnh:
Ảnh trên máy tính về mẫu MiG1.44 chưa từng được sản xuất của Nga. Ảnh: Global Security.

Trong khi đó, nhiều chuyên gia lại cho rằng người Trung Quốc đã phát triển công nghệ tàng hình từ việc nghiên cứu các mảnh vỡ của một chiếc máy bay Lockheed F-117 Nighthawk của Mỹ bị bắn rơi tại Serbia năm 1999. Trong chiến dịch không kích của NATO vào Serbia trong cuộc chiến Kosovo, một tên lửa phòng không SA-3 do Liên Xô chế tạo đã hạ được chiếc máy bay này và đây là lần đầu tiên một máy bay tàng hình của Mỹ trúng đạn.

Lầu Năm Góc khi đó cho rằng chỉ có kết hợp các chiến thuật thông minh và có sự may mắn mới giúp tên lửa SA-3 chạm tới F-117 Nighthawk. Phi công đã nhảy dù và được cứu, còn chiếc máy bay tàng hình của Mỹ rơi xuống và nổ tung, văng mảnh vỡ ra một khu vực đồng cỏ rộng lớn.

Người địa phương đã thu lượm các mảnh vỡ của chiếc F-117 từ nhỏ đến to như một chiếc xe hơi. Tham mưu trưởng quân đội Croatia thời chiến tranh Kosovo là đô đốc Davor Domazet-Loso cho biết: "Thời điểm đó, tin tức tình báo của chúng tôi cho biết các điệp viên Trung Quốc đã tìm kiếm trong khu vực chiếc F-117 bị rơi và thu mua các mảnh vỡ máy bay từ những người nông dân địa phương".

Một quan chức quân sự cao cấp của Serbia cũng xác nhận nhiều mảnh vỡ của máy bay Mỹ đã được những người sưu tập đồ lưu niệm quan tâm và cuối cùng chúng rơi vào tay "các tuỳ viên quân sự nước ngoài". Những thông tin này dẫn đến phỏng đoán người Trung Quốc đã sử dụng các mảnh vỡ F-117 Nighthawk để nghiên cứu bí mật công nghệ tàng hình trên máy bay.

Tuy nhiên, Lockheed F-117 Nighthawk không phải là máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm và được coi là đã lạc hậu. Do đó nếu Trung Quốc học công nghệ tàng hình từ mảnh vỡ máy bay này thì chiếc Chengdu J-20 của họ sẽ bị tụt hậu hàng thập kỷ so với những chiếc cùng loại là F-22 Raptor của Mỹ hiện nay.

Biên tập viên James Hardy của tạp chí quốc phòng Janes nghiêng về giả thuyết chiếc J-20 không học hỏi nhiều công nghệ từ mảnh vỡ của chiếc F-117 Nighthawk rơi tại Serbia. Tướng không quân Mỹ đã nghỉ hưu Thomas G. McInerney thì gợi ý có thể thiết kế J-20 dựa trên dự án chế tạo máy bay do thám Lockheed Martin FB-22 hoặc chiếc Northrop Grumman B-2 Spirit của Mỹ .

Máy bay F-117 Nighthawk của Mỹ. Ảnh: Sebastien.
Máy bay có công nghệ tàng hình F-117 Nighthawk của Mỹ. Ảnh: Sebastian.

Trung Quốc lần đầu cho J-20 cất cánh hồi tháng 1 vừa qua đúng dịp Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates sang thăm Bắc Kinh. Dù phải mất nhiều năm thử nghiệm nữa, việc tung ra J-20 vẫn giúp Trung Quốc gia nhập câu lạc bộ những quốc gia ít ỏi trên thế giới có máy bay tàng hình.

Hiện chỉ có Mỹ đang sử dụng máy bay chiến đấu tàng hình tương đương thế hệ với Chengdu J-20 là F-22 Raptor. Còn chiếc Sukhoi T-50 của Nga phải mất 4 năm nữa mới có thể đưa vào phục vụ cho quân đội.

read more

Ông Noda được bầu làm thủ tướng Nhật

0 Nhận Xét :
Hạ viện Nhật Bản bầu cựu Bộ trưởng Tài chính Yoshihiko Noda vào chức thủ tướng kế nhiệm ông Naoto Kan, người vừa mới từ chức.

Đây là vị thủ tướng thứ sáu của Nhật trong vòng 5 năm.

Việc bỏ phiếu tại Hạ viện diễn ra sau khi ông Noda được chọn làm lãnh đạo đảng cầm quyền Dân chủ Nhật Bản hôm thứ Hai 29/08.

Trước đó cựu Thủ tướng Naoto Kan đã từ chức vì bị ch̉i trích về cách thức xử lý hậu quả thiên tai động đất và sóng thần.

Giới phóng viên nói tân thủ tướng sẽ phải đối diện nhiều nhiệm vụ nặng nề, trong đó có việc hàn gắn rạn nứt bên trong đảng.

Thượng viện Nhật Bản, vốn yếu thế hơn, cũng sẽ phải bỏ phiếu thông qua trước khi ông Noda có thể lên làm thủ tướng. Nếu Thượng viện không thuận thì Hạ viện sẽ phải bỏ phiếu lại.

Nhiều khu vực ở Nhật Bản còn đang phải tái thiết sau trận động đất và sóng thần khủng khiếp hồi tháng Ba, cuộc khủng hoảng hạt nhân tại nhà máy điện Fukushima cũng đang chờ giải quyết.

Bên cạnh đó, ông Noda, một người theo phe bảo thủ về tài chính, cũng sẽ phải đối phó với bài toán khó về kinh tế trì trệ.

Trong quá khứ ông đã từng tuyên bố muốn củng cố ngân sách qua việc tăng thuế, thí dụ tăng gấp đôi thuế bán hàng mà hiện đang ở mức 5% - với mục đích cuối cùng là giảm nợ công và tăng an sinh xã hội.

Không như ông Kan, ông Noda muốn tái khởi động các lò phản ứng hạt nhân và không ủng hộ kêu gọi giải trừ hạt nhân một cách hoàn toàn.

Vì quyền lợi của người dân

Sau khi Hạ viện bỏ phiếu xong, ông Noda phát biểu: "Hãy cùng đổ mồ hôi vì người dân Nhật Bản".

"Đây là ước nguyện thành thực của tôi."

Đảng Dân chủ Nhật (DPJ) đã giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử 2008, chấm dứt nửa thế kỷ cầm quyền liên tục của đảng Dân chủ Tự do.

Thế nhưng DPJ lại mất quyền kiểm soát Thượng viện trong kỳ bầu cử 2010 và gặp nhiều khó khăn trong việc thông qua nhiều điều luật tại Quốc hội.

DPJ cũng đang bị chia rẽ trong nội bộ, xung quanh một nhân vật quyền bính là Ichiro Ozawa.

Ông Ozawa - vốn được gọi là vị Shogun trong bóng tối - tập hợp quanh mình 130 dân biểu, cho dù đang chờ ngày ra tòa vì cáo buộc biển thủ tiền ủng hộ của cử tri. Ông này cũng đang bị DPJ treo thẻ đảng.

read more

Gia đình Gaddafi chạy sang Algeria

0 Nhận Xét :

Vợ và ba người con của Đại tá Muammar Gaddafi đang tị nạn ở Algeria, các quan chức nước này cho biết.

Thông cáo của Bộ ngoại giao Algeria cho biết, vợ ông là bà Safia, con gái Ayesha và hai người con trai Muhammad và Hannibal đã rời Libya vào sáng thứ Hai 29/8.

Tin tức này đã được thông báo với Liên Hiệp Quốc và các lãnh đạo quân nổi dậy, hãng thông tấn Algeria APS trích Bộ Ngoại giao Algeria cho biết.

Các thành viên gia đình Đại tá Gaddafi đã vượt qua biên giới giữa Libya và Algeria vào lúc 08:45 giờ địa phương (tức 07:45 GMT) ngày 29/8.

Đại sứ Algeria ở Liên Hiệp Quốc nói rằng họ được tiếp nhận trên cơ sở nhân đạo.

Trong khi đó, quân nổi dậy nói họ đã phát hiện bốn hố chôn tập thể trong những ngày gần đây.

Theo Hội đồng Chuyển giao Quốc gia ̣(NTC), có ít nhất 53 người thiệt mạng tại đây.

Một nhân chứng tận mắt chứng kiến cho biết hơn 100 người đã bị hành quyết theo lệnh của chính Khamis Gaddafi, một trong các con trai của Đại tá Gaddafi

Theo Bộ trưởng Tư pháp NTC Muhammed al-Alagi, thêm ba hố chôn người tập thể được phát hiện ở Libya, bao gồm một số nơi gần hai thị trấn Brega và Ras Lanuf.

Địa điểm này gần với những doanh trại quân đội nằm dưới quyền Khamis. Quân nổi dậy nói bản thân ông Khamis có thể đã bị giết trong một trận đụng độ gần Bani Walid.

Phóng viên BBC Andrew Hosken, người đã đến thăm một trong những địa điểm thảm sát ở đông nam Tripoli, nói: "Ở trang trại này, tôi thấy một số lượng lớn các thi thể bị cháy đen mà người ta cho là đây là các binh lính từ chối chiến đấu cho đại tá Gaddafi trong những tuần gần đây."

Con trai đã chết?

Phóng viên BBC Jon Leyne ở thành phố miền đông Benghazi nói ông nghe về việc này lần đầu tiên là từ phía quân nổi dậy hai ngày trước đó.

Tuy nhiên, vào lúc đó, nhà chức trách Algeria đã phủ nhận việc một đoàn xe bọc thép gồm sáu chiếc đã băng qua biên giới.

Algeria là nơi tị nạn hiển nhiên của gia đình Gaddafi vì hai quốc gia này có chung một đường biên giới dài và chính phủ Algeria cho đến nay vẫn chưa công nhận Hội đồng Chuyển giao Quốc gia của quân nổi dậy, phóng viên BBC cho biết.

"Ở trang trại này, tôi thấy một số lượng lớn các thi thể bị cháy đen mà người ta cho là đây là các binh lính từ chối chiến đấu cho đại tá Gaddafi trong những tuần gần đây. "

Andrew Hosken, phóng viên BBC ở Tripoli

"Họ được tiếp đón trên cơ sở nhân đạo," Mourad Benmehidi, đại sứ Algeria ở LHQ nói với BBC.

"Quy luật thiêng liêng về lòng mến khách trong văn hóa chúng tôi là điều mà mọi người phải luôn nhớ, đặc biệt ở khu vực sa mạc này nơi chúng tôi có nghĩa vụ giúp đỡ bất kỳ một ai."

Tuy nhiên, phát ngôn viên của NTC Mahmoud Shamman nói: "Đây có thể coi là một hành động gây hấn chống lại người dân Libya và đi ngược lại nguyện vọng của họ.”

"Chúng tôi sẽ dùng tất cả các biện pháp pháp lý để đưa những tên tội phạm này về nước và đưa chúng ra trước công lý ở Libya.”

Muhammad và Hannibal là hai trong số những người con trai của Gaddafi ít dính líu nhất đến chính trị.

Quân nổi dậy trước đó đoán rằng những người con trai khác của Gaddafi có lẽ đang ở bên trong hoặc gần căn cứ địa của Gaddafi ở Sirte.

Hôm thứ Hai ngày 29/8, Đại tá Al-Mahdi Al-Haragi của quân nổi dậy nói rằng Khamis, người đã chỉ huy một binh đoàn của Libya vốn bị buộc t̀ội đã gây ra một vụ thảm sát vào tuần trước, đã chết sau khi bị thương nặng trong một trận chiến.

Phát ngôn viên quân sự của quân nổi dậy Ahmed Bani nói các thi thể trong trận đánh đó đều bị thiêu hủy đến mức không thể nhận dạng, nhưng các binh lính bị bắt nói những thi thể này là cận vệ của Khamis.

Ông Bani cũng cho biết anh rể của Đại tá Gaddafi và người đứng đầu cơ quan tình báo Abdullah al-Sanussi, “gần như chắc chắc đã bị giết” trong cùng vụ đụng độ.

Rò rỉ tài liệu LHQ

Nhiều nguồn tin ban đầu cho biết Khamis đã bị giết trong một vụ không kích, mặc dù những thông tin này sau đó bị nghi vấn.

Các tuyên bố hồi đầu tháng Tám về việc quân nổi dậy đã bắt giữ người con trai nổi tiếng nhất của Đại tá Gaddafi, Saif al-Islam, hóa ra không phải là sự thật.

Các chiến binh nổi dậy đang tiến công về phía Sirte, và trước đó đã chiếm được một thị trấn nhỏ Nofilia trên đường đi.

Quân nổi dậy nói họ nghĩ Đại tá Gaddafi có thể vẫn ở trong khu vực Tripoli, theo phóng viên BBC.

Trong khi đó, một bản tài liệu bị rò rỉ tiết lộ đề xuất của LHQ về một Libya hậu xung đột. Đề xuất này kêu gọi triển khai gần 200 các quan sát viên quân sự và 190 cảnh sát LHQ để giúp ổn định đất nước.

Số cảnh sát và quan sát viên này sẽ theo sau một sứ mạng của LHQ gồm 61 nhân viên nòng cốt trong khoảng thời gian ba tháng, theo bản báo cáo bị rò rỉ trên trang mạng Inner City Press.

Bất kỳ kế hoạch nào như thế chỉ có thể được tiến hành với đề xuất của chính quyền chuyển tiếp Libya và phải được Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc cho phép.

read more

21 tháng 8, 2011

Học giả TQ hiến kế thực hiện chính sách "láng giềng tốt"

21 tháng 8, 2011
0 Nhận Xét :
Mặc dù Trung Quốc theo đuổi một "chính sách láng giềng tốt" ở châu Á, nhưng nước này lại đang đối mặt với sự chỉ trích ngày càng lớn từ các quan chức, báo chí và người dân trong khu vực. Dường như đã tới lúc Bắc Kinh cần xem xét và cải tổ chiến lược châu Á của họ.

Thách thức mới nhất đến từ Nhật Bản. Vào ngày 10/8, Chánh văn phòng Nội các Yukio Edano tuyên bố, Nhật Bản sẽ triển khai Lượng lượng Phòng vệ nếu nước ngoài xâm chiếm quần đảo Senkaku (đây là nơi tranh chấp giữa Nhật và Trung Quốc, Trung Quốc gọi là Điếu Ngư). "Nếu nước khác xâm chiếm các đảo, Nhật Bản sẽ viện tới quyền tự phòng thủ và loại bỏ kẻ xâm chiếm bằng bất cứ sự hy sinh nào", Edano nói tại Tokyo, rõ ràng là đề cập tới các hành động hải quân của Trung Quốc trong khu vực.

Tuyên bố của ông Edano đưa ra sau khi Nhật công bố Sách trắng Quốc phòng năm 2011, cuốn sách được nội các của Thủ tướng Naoto Kan thông qua một tuần trước đó. Sách trắng mô tả lập trường của Trung Quốc trong tranh chấp hàng hải với các nước láng giềng là "quả quyết".

"Việc hiện đại hoá lực lượng hải quân và không quân của Trung Quốc trong những năm gần đây, phạm vi ảnh hưởng có vẻ đã phát triển ra ngoài vùng biển lân cận... Dự kiến Trung Quốc sẽ cố gắng mở rộng phạm vi hoạt đông, và làm cho các hoạt động hải quân trở nên thường xuyên hơn ở các vùng nước xung quanh Nhật Bản bao gồm biển Hoa Đông và Thái Bình Dương cũng như Biển Đông", sách trắng viết. Trung Quốc được mô tả trong cuốn sách là "tắc trách" khi liên tục phủ nhận quá trình hiện đại hoá quân sự làm ảnh hưởng tới láng giềng trong khu vực.



Trước khi Nhật công bố sách trắng quốc phòng, một nhóm các nghị sĩ Philippines và quan chức quân sự đã tới đảo Pagasa ngày 20/6. Khi các quan chức này tới đảo, hát quốc ca với người dân, thì ngoại trưởng Trung Quốc đang tham dự diễn đàn ASEAN ở Bali, Indonesia nhằm tìm kiếm biện pháp tháo gỡ căng thẳng ở Biển Đông.

Trước đó, cả Philippines và Việt Nam đều mạnh mẽ phản đối việc các tàu Trung Quốc quấy nhiễm, làm hư hại tàu thăm dò, tàu cá của hai nước ở Biển Đông.

Chỉ trích thậm chí còn xuất phát từ cả Singapore, là nước không có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc và được xem có quan điểm khá thân thiện trong Đông Nam Á. Đầu năm nay, vị chính khách cấp cao Lý Quang Diệu cho biết, ông thích Mỹ hơn là Trung Quốc chiếm ưu thế ở châu Á, vì ông thấy Mỹ "tốt bụng" hơn.

Khắp khu vực, những tuyên bố phản đối Trung Quốc có thể thấy một cách thường xuyên trong các phát ngôn của quan chức chính phủ cũng như bình luận báo chí.

Không một cường quốc nào khác như Mỹ, EU hay thậm chí là Ấn Độ lại là tâm điểm của quá nhiều cáo buộc bất lợi như vậy từ các nước láng giềng. Những tuyên bố như vậy không hề có lợi có các nỗ lực của Trung Quốc trong việc xây dựng và tăng cường các mối quan hệ hữu nghị với láng giềng theo "chính sách láng giềng tốt".

Chính sách ngoại giao dựa trên bốn nguyên tắc chiến lược: các siêu cường lớn là đối tác chủ chốt, các nước láng giềng là đối tác chính, các nước đang phát triển là nền tảng của chính sách ngoại giao Trung Quốc và các thể chế đa phương là nền tảng quan trọng.

Để thực hiện chiến lược các nước láng giềng là đối tác chính, Bắc Kinh tuân thủ các nguyên tắc "coi các nước láng giềng là đối tác và đối xử với họ một cách thiện chí" và "xây dựng một vùng lân cận thiện chí, yên bình và thịnh vượng".

Trong tháng 4, tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao - một nền tảng của hội nhập kinh tế khu vực, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào nhấn mạnh, để xây dựng một châu Á hoà hợp, các nước cần tôn trọng những nền văn minh đa dạng và thúc đẩy quan hệ láng giềng. "Chúng ta cần chuyển đổi mô hình phát triển và thúc đẩy phát triển toàn diện... Chúng ta cần chia sẻ các cơ hội phát triển và cùng nhau đối phó thách thức... Chúng ta cần tìm kiểm nền tảng chung trong khi giải quyết các bất đồng và tăng cường an ninh chung... Chúng ta cần bảo vệ lợi ích chung và thúc đẩy hợp tác khu vực", ông Hồ Cẩm Đào phát biểu.

Theo "chính sách láng giềng tốt", Bắc Kinh vốn dĩ coi việc cải thiện quan hệ với ASEAN là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng. Trung Quốc đã xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với 10 nước thành viên ASEAN kể từ 2003, với một số thành viên trong khối...

Mặc dù Trung Quốc đã nỗ lực để cải thiện quan hệ với láng giềng, đặc biệt là các nước ở Đông Nam Á, nhưng dường như còn quá nhiều nghi ngại tồn tại. Dường như là Trung Quốc mở rộgn ảnh hưởng thông qua tăng trưởng kinh tế và quân sự thì càng khiến láng giềng càng không thích Trung Quốc hơn nữa. Tại sao Trung Quốc lại thất bại trong cuộc "ve vãn" các nước. Ở đây có mọt số lý do: một số bắt nguồn từ nỗi quan ngại của các láng giềng, số khác lại từ chính Trung Quốc.

Đầu tiên, có những lý do lịch sử. Trong suốt thời kỳ cổ xưa, một số quốc gia châu Á chịu ảnh hưởng của Nho giáo, sẽ phải cống nạp cho các vương triều của Trung Quốc bao gồm Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản bây giờ. Những nước Đông Nam Á khác không chịu ảnh hưởng (gồm Philippines, Indonesia, Campuchia và Thái Lan ngày nay) cũng có ghi nhận phải cống phẩm cho Trung Quốc theo yêu cầu từ các vị vua của họ. Ngoài ra còn có những ràng buộc gần cận hơn khi một số quốc gia Đông Nam Á dưới sự đe doạ "xuất khẩu cách mạng" của Trung Quốc vào những năm 1950-1960, rồi sự kiện năm 1979.

Nhưng có lẽ nhân tố lớn nhất đang phá huỷ lòng tin lẫn nhau và làm xói mòn nỗ lực xây dựng các quan hệ đối tác là tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ. Trung Quốc có tranh chấp lãnh hải hoặc các đảo ở Biển Đông hay Hoa Đông với Việt Nam, Brunei, Malaysia, Philippines và Nhật Bản.

Với nhiều quốc gia Đông và Đông Nam Á, tăng trưởng kinh tế, quân sự và ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc ở châu Á nhắc nhở họ về một chế độ triều cống trong lịch sử, về sự tồn tại của các chư hầu quanh Trung Quốc xưa từng thừa nhận ưu thế của Trung Quốc trong khu vực. Lo ngại về sự trở lại của một chế độ triều cống kiểu mới có lẽ vẫn là một rào cản tâm lý với một số quốc gia để khiến họ có thể tin tưởng vào chính sách láng giềng tốt của Bắc Kinh.

Quan hệ không tốt giữa Trung Quốc và láng giềng một phần còn là bởi những điều kiện nội tại của Trung Quốc, về quan niệm giá trị dân chủ giữa các nước trong khu vực. Dù Trung Quốc cam kết về một sự trỗi dậy hoà bình, dù từ lâu đã từ bỏ "xuất khẩu cách mạng", nhưng họ lại chưa làm rõ mục tiêu chiến lược của việc hiện đại hoá quân sự. Với nhiều nước láng giềng, một siêu cường như vậy mà thiếu tuyên bố rõ ràng là đáng lo ngại.

Lẽ tự nhiên với kích cỡ và dân số Trung Quốc cũng như ảnh hưởng văn hoá sâu rộng, sức mạnh kinh tế và quân sự thì những quốc gia châu Á tương đối nhỏ và yếu hơn sẽ hoài nghi và lo ngại về những gì "con rồng lớn" sẽ nắm giữ.

Để giải quyết việc này, ngoài những cam kết bằng lời nói, Trung Quốc phải có những nỗ lực thực tế để thể hiện hiện rằng, họ sẽ đóng góp vào lợi ích và ổn định khu vực khi cần thiết. Ví dụ, trong thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính hiện tại, Trung Quốc nên giữ vai trò dẫn dắt để cùng xây dựng một hệ thống tài chính khu vực mạnh mẽ nhằm ổn định thị trường tài chính khu vực.

Trung Quốc nên tôn trọng các cam kết gia tăng hoà bình bằng những biện pháp cụ thể để góp phần đảm bảo an ninh và hoà bình khu vực. Cũng như ở Trung Quốc, quan điểm dân tộc chủ nghĩa đang gia tăng khắp châu Á, thúc giục các chính phủ đưa ra các bước đi chính sách mạo hiểm và thách thức Trung Quốc. Không cần phải nói rằng, căng thẳng chính trị hiện tại của châu Á, chạy đua vũ trang, tranh chấp lâu dài không phải là chọn lựa lý tưởng cho khu vực. Vì mối quan hệ phức tạp giữa các quốc gia, Trung Quốc và những nước láng giềng cần dành thêm nhiều thời gian và nỗ lực để xây dựng các quan hệ đối tác đích thực.

Trung Quốc nên hành động như một người chơi có trách nhiệm luôn tuân thủ những nguyên tắc chung; họ nên có một chiến lược châu Á rõ ràng, thực thi và thực tế. Theo chính sách này, Bắc Kinh nên hoạt động như một cường quốc kinh tế ổn định, nó đòi hỏi Trung Quốc sáng tạo hơn trong các lĩnh vực tài chính quốc tế, và can đảm hơn trong sáng kiến cải tổ các hệ thống tài chính hiện hành.

Trung Quốc cũng nên góp phần đảm bảo an ninh khu vực với khả năng quân sự đang gia tăng của mình. Bắc Kinh nên rõ ràng hơn so với láng giềng trong việc sử dụng quân sự để duy trì ổn định khu vực thông qua chống hải tặc, khủng bố và tội phạm quốc tế khác ở Thái Bình Dương. Thay vì phô diễn sức mạnh quân sự trong tranh chấp lãnh thổ, Trung Quốc nên khuyến khích sự hội nhập chính trị, kinh tế và văn hoá ở Đông cũng như Đông Nam Á.

Sau tất cả, Trung Quốc nên định hình lại chiến lược châu Á của mình với mục tiêu hoạt động như một lực lượng ổn định, trong khi vẫn duy trì chiến lược để giữ sự cân bằng với ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực này.

Trung Quốc phải thể hiện thiện chí và sự chân thành của mình bằng lời nói và hành động. Chỉ bằng cách này, thì sự trỗi dậy hoà bình của họ mới không đáng báo động và Trung Quốc mới được các láng giềng châu Á coi là một người bạn.

Chiến lược châu Á của Trung Quốc nên đi xa hơn việc chỉ là tìm kiếm những lợi ích kinh tế chung và bao gồm trách nhiệm góp phần duy trì ổn định tài chính, hàng hải và chính trị.

*Jian Junbo, nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Phúc Đán, Thượng Hải, Trung Quốc.

read more

Thaksin 'lấn át' tân Thủ tướng Thái Lan?

0 Nhận Xét :
Báo chí và tin tức truyền hình giờ đây hầu như tập trung vào Thaksin, một cựu tỉ phú truyền thông, đúng vào lúc cô em gái Yingluck của ông lên nắm quyền. 

Bị lật đổ trong một cuộc đảo chính năm 2006 và sống ở nước ngoài để tránh án tù vì cáo buộc tham nhũng, cựu Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra từ lâu đã không được coi là một lực lượng chính trị đối lập.

Nhưng trong những ngày kể từ khi em gái ông là bà Yingluck thắng cử và trở thành Thủ tướng, Thaksin trở lại nóng hơn bao giờ hết, gây khó khăn cho chính phủ mới trong việc giành được sự chấp nhận của công chúng và làm gia tăng nguy cơ bất ổn xã hội.


Cựu thủ tướng bị lật đổ của Thái Lan, Thaksin Shinawatra. Ảnh: guardian
 
Là một chính khách mới mẻ, bà Yingluck từng thổ lộ muốn hòa giải đất nước bị chia rẽ sâu sắc kể từ khi anh trai bị hất khỏi chiếc ghế quyền lực.

"Dường như ông ấy vẫn không thể tự kiềm chế. Đó là một cuộc chơi rất nguy hiểm", Michael Montesano, một chuyên gia nghiên cứu chính trị Thái Lan thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore nói.

Từ khu biệt thự của mình ở Dubai, Thaksin được xem là người có công trong chiến thắng bầu cử của bà Yingluck, đóng một vai trò "lái buôn chính trị" đầy quyền lực nơi hậu trường và một nhà cố vấn, bất chấp bản án tham nhũng cách đây ba năm.

Hầu hết đều cho rằng, Thaksin - người từ nơi lưu vong bằng webcam và điện thoại sẽ tập hợp hàng nghìn người biểu tình chống lại chính phủ cũ của Abhisit Vejjajiva, cho phép các đồng minh chính trị của mình củng cố quyền lực và lát đường cho quyết định ân xá để cuối cùng có thể đưa ông trở về đất nước.

Nhưng những gì ông làm chính xác lại ngược lại, với kế hoạch những chuyến viếng thăm Nhật Bản và Campuchia làm Yingluck bối rối và suy giảm sự chú ý vào các chính sách bà đưa ra. "Sự vội vàng và hấp tấp từ phía Thaksin đến sớm hơn tôi dự kiến", Montesano nói. "Hành xử của ông gây khó cho Yingluck. Tôi nghĩ chúng ta sẽ thấy nhiều hơn nữa và những rắc rối của Yingluck trong việc kiểm soát anh trai sẽ trở nên tồi tệ hơn". 

Cố vấn luật pháp của Thaksin là Noppadol Pattama hôm thứ năm nói rằng, cựu Thủ tướng Thái Lan đã quyết định hoãn chuyến đi tới Campuchia mà không đưa ra lý do gì. Trước đó, dự kiến trong chuyến thăm, Thaksin sẽ có cuộc gặp gỡ với Thủ tướng Hun Sen.

Báo chí Thái Lan đưa tin, vào hôm thứ năm, Thaksin đã ở Macau nơi ông dự kiến sẽ gặp các nghị sĩ trong đảng của bà Yingluck. Với bà Yingluck, hậu quả của những nỗ lực xuất hiện công khai từ anh trai nhằm tái khẳng định bản thân sẽ sớm có thể gây bất lợi.

Những vòng xoáy mới

Kể từ sau cuộc đảo chính, Thái Lan rơi vào khủng hoảng bằng những cuộc biểu tình đường phố, phong tỏa sân bay và văn phòng chính phủ, sự can thiệp của quân đội và tòa án vào bộ máy chính quyền.

Mặc dù vấp phải sự phản đối mạnh mẽ, nhưng uy tín của Thaksin ở vùng nông thôn vẫn được đảm bảo bởi các đảng ông dẫn dắt hoặc ủng hộ trong suốt thập niên qua. Giới phân tích đang đề cập tới những hiệu ứng ngược nếu Thaksin đi quá giới hạn và cố gắng điều hành đất nước từ nơi lưu vong.

Yingluck đã nhận được sự đánh giá khá tích cực kể từ khi sự nghiệp chính trị của bà mới bắt đầu cách đây ba tháng. Theo kết quả một cuộc thăm dò trong tuần này, bà là thành viên được yêu mến nhất trong chính phủ mới.

Đội ngũ kinh tế của bà đã khẳng định sẽ thúc đẩy những cam kết chính sách dân túy đã từng giúp đảng của bà giành chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử ngày 3/7 - từ việc tăng lương tối thiểu tới cắt giảm thuế tập đoàn và gia tăng quỹ phát triển nông thôn. Giờ đây, nguy cơ là ở chỗ sự tập trung vào Thaksin có thể làm chuyển hướng chú ý vào các kế hoạch của nữ Thủ tướng mới và có thể kích động những vị tướng từng tham gia lật đổ Thaksin năm năm trước đây.

Trong những ngày gần đây, báo chí đã "dội bom" nữ Thủ tướng với các câu hỏi về Thaksin, những số báo ra ngày thứ năm thậm chí còn có rất nhiều bình luận không có lợi, một số trong đó đặt ra nghi ngờ rằng liệu bà có thực sự phụng sự đất nước như đã hứa.

Rắc rối bắt đầu xảy ra với Yingluck vào ngày 9/8 khi bà công bố tên Ngoại trưởng mới của Thái Lan - một người trung thành với Thaksin và không có kinh nghiệm ngoại giao cũng như làm bộ trưởng. Bản thân Surapong Towichukchaikul đã tự khiến mình bất lợi khi ông có cuộc họp hai ngày sau đó với một quan chức ngoại giao Nhật Bản để đề xuất việc cấp visa cho Thaksin thăm Nhật. Đề nghị này được chấp nhận.

Các chính khách đối lập đã mạnh mẽ phản đối viêc cấp visa, gọi Thaksin là kẻ trốn chạy luật pháp. Chính phủ trước đã tước hộ chiếu Thái của ông. Ông đi lại nhờ các hộ chiếu do Nicaragua và Montenegro cấp với tư cách là công dân hai nước này.

Khoảng 200 người biểu tình đã tập trung bên ngoài đại sứ quán Nhật ở Bangkok để phản đối quyết định của Tokyo trong việc cấp visa và rõ ràng là đã từ bỏ quy định hạn chế người nước ngoài có "tiền án" vào Nhật.

Nhiều người Thái tin là, Surapong sẽ cố gắng đưa lại hộ chiếu Thái cho Thaksin, một động thái có thể thể hiện việc chính phủ mới không công nhận việc kết án ông. Giới phân tích cho rằng, việc hăm hở đi lại của Thaksin có thể là nỗ lực tái thiết hình ảnh của ông và gửi thông điệp tới dân Thái rằng ông là người vô tội.

Những diễn biến trên có thể gây ra phản ứng từ phe đối lập với Thaksin, và dễ dàng tạo ra vòng xoáy mới của những cuộc biểu tình và xung đột chính trị. "Cả ông và em gái ông cần phải hiểu rằng, ông vẫn là chiếc cột thu lôi có thể xóa bỏ mọi nỗ lực của đảng Puea Thai nhằm thúc đẩy hòa giải", Joshua Kurlantzick, nhà phân tích đối ngoại tại Mỹ nói. "Thaksin, một chính khách có thể không bao giờ thấy thoải mái vì sống lưu vong dường như không hiểu rằng, ông có thể chôn vùi thành công của đảng mình", Joshua nhấn mạnh.

read more

19 tháng 8, 2011

Thái Lan phát hiện 169 thi hài nghi thuộc phe áo đỏ

19 tháng 8, 2011
0 Nhận Xét :
Cảnh sát Thái Lan sẽ kiểm tra 169 thi hài tìm thấy tại 2 ngôi chùa ở tỉnh Rayong để xác định liệu đây có phải là những người thuộc phe áo đỏ mất tích trong cuộc đại biểu tình, vốn kết thúc bằng một cuộc trấn áp đẫm máu vào ngày 19.5.2010 hay không.

Theo tờ The Nation, trung tướng Santhan Chayanont, chỉ huy đơn vị điều tra của cảnh sát Thái Lan đã chỉ đạo một cuộc điều tra tại ngôi chùa Klong Takwa và Huai Yang ở huyện Klaeng vào hôm 18.8.

Trước đó, cảnh sát đã phát hiện 72 thi thể tại ngôi chùa Klong Takwa và 97 thi thể tại chùa Huai Yang.

Nhiều người thuộc phe áo đỏ được cho là đã mất tích trong cuộc biểu tình ở Bangkok vào năm ngoái - Ảnh: AFP

Santhan nói ông tiến hành điều tra theo chỉ thị của Phó cảnh sát trưởng quốc gia, đại tướng Priewpan Damapong, một người thân cận với chính phủ mới của Thủ tướng Yingluck Shinawatra.

Theo những trụ trì ở hai ngôi chùa, các thi hài được hai người đàn ông thuộc một tổ chức từ thiện địa phương mang đến chùa vào khoảng tháng 7.2010, hai tháng sau cuộc trấn áp ở Bangkok.

Những người này nói với họ rằng đây là những thi hài vô thừa nhận và không liên hệ đến vụ án nào. Một trụ trì nói: “Tôi chưa bao giờ thấy tình trạng các thi hài. Họ chỉ nói với tôi rằng đó là xương người được bọc trong vải trắng trước khi đặt chúng vào những cỗ quan tài”.

Tướng Santhan nói các thi hài sẽ được khai quật để tiến hành kiểm tra ADN nhằm xác định danh tính. Những người liên quan đến việc chôn cất các thi hài cũng sẽ được thẩm vấn.

Trong khi đó, Tổng Tư lệnh Lục quân Thái Lan tướng Prayuth Chan-ocha thì kêu gọi dư luận bình tĩnh và không nên vội vàng kết luận về nguồn gốc của những thi hài trên.

read more

Ba 'cây đinh' trong chiến lược vũ khí Trung Quốc

0 Nhận Xét :

Trong bối cảnh Trung Quốc có va chạm về vấn đề biển đảo với láng giềng, hai trong số ba loại vũ khí mang tính cột mốc trong chiến lược phát triển vũ khí của Bắc Kinh liên quan đến sức mạnh hải quân.

Chiến lược tập trung phát triển năng lực vũ khí cho hải quân giúp sức mạnh trên biển của Trung Quốc được đánh giá là có thế áp đảo trong khu vực. Các hệ thống vũ khí mới được bổ sung cũng có thể giúp Bắc Kinh đe doạ cả thế áp đảo của hải quân Mỹ trong tương lai. Do đó có sự lo ngại của nhiều nước láng giềng về sự phát triển quân sự của Trung Quốc là điều khó tránh khỏi.

Theo Tiến sĩ Andrew Erickson, một chuyên gia về Trung Quốc của Trường Chiến tranh hải quân Mỹ (Naval War College): "Trung Quốc không muốn phát động một cuộc chiến tranh mà thay vào đó tìm cách sử dụng sức mạnh quân sự đang lên của mình để thực hiện chiến thuật 'không đánh cũng thắng', bằng việc răn đe những hành động mà họ cho là làm phương hại đến các lợi ích cốt lõi của họ".

Theo các chuyên gia, để đạt được chiến thuật "không đánh cũng thắng" thì không có cách nào khác là phát triển kho vũ khí. Có 3 loại vũ khí mới mang tính biểu tượng cho việc mở rộng sức mạnh quân sự của Trung Quốc là tàu sân bay, tên lửa diệt tàu sân bay và máy bay chiến đấu tàng hình.

Trong số 3 vũ khí đinh nói trên, chiếc tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc vừa hoàn tất chuyến chạy thử trên biển hồi tuần trước, sau nhiều năm cải tạo từ vỏ tàu mua của Ukraina. Còn mẫu máy bay tàng hình lộ diện từ cuối năm ngoái và đang liên tục thực hiện các chuyến bay thử trong những ngày qua.

Loại tên lửa được cho rằng có khả năng diệt tàu sân bay của Trung Quốc là vũ khí duy nhất trong số trên đã qua quá trình thử nghiệm và sẵn sàng chiến đấu. Giới chuyên gia quân sự Mỹ phỏng đoán Bắc Kinh đã bắt đầu triển khai tên lửa đạn đạo độc nhất trên thế giới có khả năng tiêu diệt các chiến hạm dang di chuyển này.

Tên lửa diệt tàu sân bay

Tên lửa của Trung Quốc. Ảnh: Military.
Tên lửa Dong-Feng DF-21D của Trung Quốc. Ảnh: Defence Talk.

Trung Quốc đang triển khai một lực lượng hùng hậu tên lửa và các loại vũ khí tầm xa khác để vươn rộng khả năng tác chiến ra ngoài bờ. Trong số này nổi bật nhất là tên lửa đạn đạo chống hạm độc nhất trên thế giới Dong-Feng DF-21D. Độc nhất vì đây là loại tên lửa đầu tiên đặt trên bờ có khả năng tấn công được các nhóm tàu sân bay của Mỹ, vốn từ lâu là trụ cột trong sức mạnh hải quân của Washington.

Hoả tiễn Dong-Feng DF-21D (phương Tây gọi là CSS-5) được bắn từ bệ phóng di động đặt trên xe tải chuyên dụng rất linh hoạt, với tầm bắn đạt 1.500 km. Tên lửa đạn đạo tầm trung một đầu đạn dùng chất đẩy rắn hai kỳ này cho phép quân đội Trung Quốc có thể tấn công các chiến hạm đang di chuyển ở vùng tây Thái Bình Dương, địa bàn đang do hải quân Mỹ chiếm thế áp đảo.

Giới chức Mỹ và Đài Loan đều khẳng định Trung Quốc đã triển khai sẵn sàng tên lửa DF-21D. Không khó để hiểu tại sao Bắc Kinh muốn có loại hoả tiễn với khả năng diệt các loại tàu chiến đủ cỡ này. Theo các chuyên gia đó là vì Trung Quốc muốn hạn chế sức mạnh vượt trội của hải quân Mỹ, ngăn khả năng Washington có thể can thiệp các cuộc khủng hoảng trong tương lai liên quan đến đảo Đài Loan.

Sở dĩ DF-21D đã sẵn sàng chiến đấu vì dự án chế tạo hoả tiễn này được khởi động từ cuối những năm 60. Bộ Quốc phòng Mỹ ước tính Trung Quốc đang có từ 60 đến 80 quả tên lửa loại này cùng 60 bệ phóng tự hành. DF-21D là phiên bản mới nhất trong dự án chế tạo hoả tiễn trong nhiều năm của Bắc Kinh và là tên lửa đạn đạo chống hạm (ASBM) đầu tiên trên thế giới. Một người anh em của loại tên lửa này cũng được phát triển để có khả năng phá huỷ vệ tinh.

 Tàu sân bay

Trung Quốc ôm giấc mộng tàu sân bay từ nhiều năm và giới chức quân sự nước này gần đây cũng thể hiện rõ quan điểm rằng một quân đội mạnh thì không thể thiếu loại vũ khí của các "đại gia" này. Ngay từ Thế chiến II, tàu sân bay đã là phương tiện mang tính quyết định đến sức mạnh hải quân của các cường quốc.

Tàu sân bay Shi Lang hoàn thiện từ vỏ tàu Varyag hoàn tất chuyến chạy thử hồi tuần trước. Ảnh: China Daily.

Cho đến nay Mỹ vẫn chưa có đối thủ về lực lượng tàu sân bay, kể cả thời Liên Xô còn hùng mạnh cũng không thể so sánh với Mỹ về loại vũ khí này. Mỹ cũng có một lực lượng hùng hậu các loại máy bay chiến đấu đủ loại chuyên hoạt động trên tàu sân bay sau nhiều năm phát triển liên tục. Mỗi chiếc tàu sân bay lại có cả một hạm đội đi kèm để bảo vệ gồm nhiều loại tàu ngầm và chiến hạm.

Còn Trung Quốc sau nhiều năm ấp ủ, nước này đang bắt đầu bước chân vào cuộc chạy đua sở hữu tàu sân bay với việc cho chạy thử chiếc đầu tiên mang tên Shi Lang tuần trước. Tàu sân bay được hoàn thiện từ vỏ tàu Varyag mua từ Ukraina này sẽ sử dụng loại máy bay tiêm kích do Trung Quốc sản xuất mang tên J-15 Flying Shark, được dựa trên mẫu máy bay Sukhoi SU-33 của Nga.

Như vậy Trung Quốc đã chọn con đường tắt để hiện thực hoá giấc mơ tàu sân bay bằng cách dựa trên công nghệ của nước ngoài, mà cụ thể là công nghệ của Nga rồi địa phương hoá khâu chế tạo. Kết quả của chiến lược này là Trung Quốc đã có tàu sân bay, nhưng cách thức phát triển có phần "ăn xổi" này cũng khiến Bắc Kinh chỉ sở hữu được chiếc tàu không thể sánh với tàu sân bay của Mỹ.

Giới chuyên gia phương Tây nhấn mạnh tàu sân bay Trung Quốc sẽ chủ yếu phục vụ công tác huấn luyện. Nguyên nhân vì để vận hành hạm đội tàu sân bay cần phải có kinh nghiệm chỉ có thể thu được qua thời gian. Bản thân giới chức Trung Quốc khi lần đầu tiên chính thức công bố thông tin về tàu sân bay của mình cũng nói rằng nó sẽ được phục vụ cho huấn luyện và nghiên cứu.

Bên cạnh đó tàu sân bay Trung Quốc còn mang ý nghĩa chính trị hơn là sức mạnh quân sự. Nói như Tiến sĩ Andrew Erickson, Trung Quốc sẽ sử dụng chiếc tàu sân bay đầu tiên của mình để khẳng định hình ảnh của một cường quốc đang lên đối với thế giới.

 Máy bay chiến đấu tàng hình
 
Máy bay chiến đấu tàng hình Chengdu J-20 của Trung Quốc trong chuyến bay thử ngày 15/8 vừa qua. Ảnh:
Chiếc Chengdu J-20 của Trung Quốc trong chuyến bay thử ngày 15/8 vừa qua. Ảnh: Global Times.

Công nghệ hàng không của Trung Quốc đang tiến mạnh mẽ và theo truyền thống vẫn dựa trên việc phát triển các mẫu máy bay thời Liên Xô. Đỉnh cao trong chiến thuật "học hỏi công nghệ" từ nước ngoài trong chế tạo máy bay của Trung Quốc là mẫu máy bay tàng hình Chengdu J-20 đang gây xôn xao với hàng loạt chuyến bay thử vừa qua.

Việc công bố hình ảnh Chengdu J-20 có tác động rất lớn vì mẫu máy bay này được cho là đã đưa Trung Quốc gia nhập nhóm các nước rất ít trên thế giới có thể sản xuất chiến đấu cơ thế hệ thứ năm có khả năng tàng hình trước radar. Chuyến bay đầu tiên của Chengdu J-20 được thực hiện hồi tháng 1, chỉ vài giờ trước khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates tới Bắc Kinh.

Tuy có ảnh hưởng lớn, sức mạnh thực chất của Chengdu J-20 cũng không khác so với tàu sân bay Shi Lang theo quan điểm của giới chuyên gia vũ khí. Douglas Barrie đến từ Học viện Quốc tế về Chiến lược học ở London (International Institute of Strategic Studies) khẳng định Chengdu J-20 không thể nào so sánh với máy bay cùng loại của Mỹ.

"Nhưng chiếc máy bay này đánh dấu tham vọng của Trung Quốc trong việc phát triển khả năng không chiến và nền công nghiệp quốc phòng hàng không của họ", BBC dẫn lời chuyên gia Douglas Barrie. Dù đã có thể bay lượn trên trời, mẫu máy bay đời mới có khả năng tàng hình của Trung Quốc cũng phải mất hàng thập kỷ thử nghiệm mới có thể tham chiến thực sự.

Tuy nhiên, tàu sân bay Shi Lang hay máy bay tàng hình Chengdu J-20 dù chưa thể trở thành vũ khí trên chiến trường thì đây vẫn là cột mốc trong sự phát triển năng lực quân sự không ngừng của Trung Quốc. Chúng mang thông điệp về khả năng Bắc Kinh có thể thách thức thế áp đảo về không quân và hải quân hiện nay của Mỹ trong tương lai không xa. Điều đó cũng giải thích việc tại sao Washington "soi" một cách đặc biệt đến các dự án chế tạo vũ khí này của Trung Quốc.

read more

Chuyến thăm TQ nặng mùi dầu của Tổng thống Philippines

0 Nhận Xét :
Thăm dò dầu khí và các hợp đồng sản xuất dầu trong tương lai tại Biển Đông sẽ là một chủ đề nóng khi Tổng thống Philippines thực hiện chuyến công du chính thức đầu tiên tới Trung Quốc, gặp gỡ Chủ tịch Hồ Cẩm Đào ở Bắc Kinh tháng này.

Ông Benigno Aquino - vị lãnh đạo đang có những vướng mắc với Bắc Kinh về các sự cố gần đây giữa tàu thuyền Philippines và Trung Quốc quanh khu vực tranh chấp ở Biển Đông - đã nhận lời mời chính thức của ông Hồ Cẩm Đào. Việc các quan chức ngoại giao, quốc phòng cao cấp tháp tùng ông đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chuyến công du.

"Với tôi, quan trọng là trò chuyện với mọi người, đặc biệt là phía bên kia", ông Aquino nói trong một diễn đàn báo chí tuần trước khi đề cập tới Trung Quốc. "Có thể chúng tôi sẽ đạt được một thỏa thuận. Sau tất cả, chúng ta không thể bỏ qua vấn đề mà ở đó, cuộc sống con người có thể bị đe dọa".

 Tổng thống Philippines Aquino từng tuyên bố chính phủ của ông sẽ bảo vệ lãnh thổ bằng mọi giá và mọi cách. Ảnh: thewest

Khác với ông Aquino, ông Hồ Cẩm Đào có vẻ vẫn kín tiếng về vấn đề nhạy cảm là quần đảo Trường Sa. Cuộc gặp thượng đỉnh giữa nhà lãnh đạo hai nước diễn ra giữa lúc Manila lên kế hoạch tổ chức đấu thầu 15 hợp đồng thăm dò dầu khí trị giá 7,5 tỉ USD - một động thái khiến Bắc Kinh phản ứng.

"Có thể phải trả giá cao cho bất kỳ xét đoán sai lầm nào về vấn đề Biển Đông của các nước như Philippines", một bài xã luận đăng trên Nhật báo Trung Quốc mạnh mẽ lên tiếng

Các hợp đồng thăm dò dầu khí của Manila bao gồm khu vực 10,3 triệu ha tại các vùng nước nông và sâu ở các lòng chảo của Tây Bắc Palawan, Đông Palawan, biển Sulu, Mindoro-Cuyo, Cagayan, Luzon và Cotabato. Quan chức Philippines cho hay, trữ lượng của khu vực này ước tính đạt 5 tỉ thùng dầu và hàng chục nghìn tỉ mét khối khí đốt, đủ để đáp ứng ít nhất 30% nhu cầu năng lượng của Philippines. Các hợp đồng thăm dò đã thu hút sự quan tâm của những hãng dầu lớn từ Anh, Australia, Canada, Mỹ và những nước khác.

Theo Bộ Năng lượng Philippines, hai tập đoàn nhà nước Trung Quốc là Tập đoàn Dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) và China Union Global Holdings Ltd cũng đã tham gia đấu thầu. Cả hai hãng này đã có những cuộc thương thảo với Tập đoàn Thăm dò dầu khí quốc gia Philippines, đặc biệt là những khu vực ngoài khơi giàu tiềm năng dầu khí của tỉnh Palawan, phía tây Manila. "Về điều kiện tài chính, pháp lý và kỹ thuật, chúng tôi không thấy bất cứ vấn đề gì", Thứ trưởng Năng lượng Philippines Jose Layug nói.

Ông nhấn mạnh, CNOOC và China Union Global Holdings cùng các công ty dầu khí nước ngoài khác đã đệ đơn xin thăm dò các lô thậm chí trước khi căng thẳng ở Biển Đông gia tăng.

Cuộc gặp song phương với nhiều vấn đề nan giải diễn ra giữa lúc Washington lên tiếng thúc giục về một cuộc đàm phán hòa bình giải quyết tranh chấp hàng hải giữa Trung Quốc và bốn nước Đông Nam Á đều có tuyên bố chủ quyền với Biển Đông.

Dù không phải là nước tuyên bố chủ quyền, nhưng Mỹ khẳng định họ coi tự do hàng hải và dòng chảy thương mại ở Biển Đôg là một phần trong lợi ích quốc gia của mình. Cuộc đối thoại giữa ông Aquino và ông Hồ Cẩm Đào sẽ trùng khớp với hội nghị hàng năm của Ủy ban Phòng thủ chung Mỹ - Philippines tại Hawaii.

Các quan chức quốc phòng hàng đầu của Mỹ và Philippines dự kiến sẽ bàn thảo về những vấn đề địa chính trị, bao gồm cả chuyện tranh chấp quần đảo Trường Sa và động thái quân sự ngày một gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuần trước, Trung Quốc đã đưa tàu sân bay đầu tiên ra thử nghiệm trên biển, làm gia tăng mối quan ngại trong các láng giềng châu Á về tham vọng hải quân của nước này.

Trong bối cảnh ấy, chuyến đi của Tổng thống Aquino sang Trung Quốc có thể bị coi như một sự "nhượng bộ" với thái độ khăng khăng của Bắc Kinh trong việc giải quyết tranh chấp với các bên tuyên bố chủ quyền khác ở Biển Đông bằng con đường song phương thay vì đa phương như Washington và ASEAN đề xuất. Giới phê bình cho rằng, quan điểm giải quyết tranh chấp bằng cách song phương của Trung Quốc là chiến lược "chia để trị".

Nếu ông Aquino và ông Hồ Cẩm Đào không đạt được thỏa thuận trong các cuộc hội đàm, thì Manila từng bóng gió rằng, họ tìm kiếm sự can thiệp của Tòa án quốc tế về Luật biển. LHQ đã thiết lập tòa án này để giải quyết các tranh chấp xung quanh việc làm sáng tỏ Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS). Cả Philippines và Trung Quốc đều nằm trong số các nước đã ký công ước.

"Philippines đã sẵn sàng bảo vệ quan điểm của mình phù hợp với luật pháp quốc tế trong khuôn khổ UNCLOS", Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario nói. Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc về Biển Đông dựa trên bản đồ 9 đoạn tự đưa ra bao trùm hầu hết vùng biển.

Ông cảnh báo, nếu không bị thách thức, tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc có thể đe dọa tự do hàng hải, thương mại không cản trở của các quốc gia khác. Dự kiến trong chuyến công du, ông Aquino sẽ còn đề cập tới vấn đề tàu thuyền Trung Quốc xâm nhập vào khu vực mà Philippines tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Manila đã phàn nàn về việc ít nhất có bảy vụ việc xảy ra giữa tàu và máy bay Philippines - Trung Quốc ở Biển Đông kể từ tháng 2 năm nay, trong đó có cả vụ hải quân Trung Quốc bắn vào ngư dân Philippines hay Trung Quốc quấy nhiễu một tàu thăm dò dầu khí thuộc sở hữu của hãng Forum Energy Plc, Anh.

Hãng này đã tiến hành thăm dò dầu khí ở Reed Bank, cách tỉnh Palawan 80 hải lý. Theo quan chức Philippines, Reed Bank nằm trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines theo quy định của UNCLOS và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc tới 575 hải lý. Dựa vào số liệu thăm dò của Forum, Reed Bank có trữ lượng 96 tỉ mét khối khí tự nhiên và 440 triệu thùng dầu.

Trong một vụ việc khác, một máy bay quân sự Philippines khi đang tuần tra ở Biển Đông đã bị quấy nhiễu bởi một máy bay nước ngoài (được cho là từ Trung Quốc). Trung Quốc cũng đã xây dựng các cấu trúc ở Iroguois Reef-Amy Douglas Bank gần Palawan mà Manila tuyên bố chủ quyền. Các công trình này sau đó đã bị hải quân Philippines tháo dỡ.

Trong khi khẳng định Philippines rõ ràng không muốn sự đối đầu thì Tổng thống Aquino cũng nhấn mạnh rằng, chính phủ của ông sẽ bảo vệ lãnh thổ "bằng mọi giá và mọi cách". Ông nói: "Những gì của chúng ta là của chúng ta và những gì tranh chấp có thể chia sẻ".

read more

18 tháng 8, 2011

Trung Quốc tiếp tục thử nghiệm chiến đấu cơ tàng hình

18 tháng 8, 2011
0 Nhận Xét :
Chiến đấu cơ tàng hình J-20 của Trung Quốc, vốn gây xôn xao dư luận thời gian gần đây, đã cất cánh trong chuyến bay thử nghiệm lần thứ 27 tại tỉnh Tứ Xuyên, tây nam Trung Quốc.

Một cư dân mạng đã chụp được ảnh vụ thử nghiệm hôm 15/8 tại thành phố Thành Đô.

Theo Xinhua, đây là chuyến bay thử nghiệm thứ 27 của J-20.


J-20 là chiến đấu cơ tàng hình thế hệ thứ 5, được phát triển cho Hải quân Trung Quốc bởi Tập đoàn công nghiệp máy bay Thành Đô.

J-20 cất cánh lần đầu tiên hồi tháng 1 năm nay.

J-20 có thể được trang bị các tên lửa tầm xa cũng như có thể tiếp nhiên liệu trên không.

J-20 cũng có thể phóng các tên lửa hành trình và mang các khí tài hạng nặng.

Phó Tư lệnh Không quân Trung Quốc, Tướng He Weirong, từng tuyên bố rằng J-20 sẽ được biên chế trong không quân nước này từ 2017-2019.

read more

Máy bay tiêm kích tàng hình Trung Quốc bay lượn trên không

0 Nhận Xét :
Những hình ảnh chụp chiến đấu cơ tiêm kích tàng hình J-20 của Trung Quốc bay lượn trên không trong lần thử nghiệm mới nhất vừa được công bố.

 

Chiếc J-20 trong vụ thử nghiệm hôm 15/8 tại thành phố Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên.

Đây là lần thử nghiệm chứ 27 của máy bay này.
 
Máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 của Trung Quốc nhả khói trên bầu trời.

J-20 là một trong những chương trình máy bay chiến đấu tàng hình được Trung Quốc khởi động từ giữa những năm 1990.
 
Đến cuối năm 2010, hai chiếc máy bay nguyên mẫu J-20 đã được hoàn thiện.

J-20 bắt đầu các cuộc thử nghiệm trên đường băng hồi cuối năm 2010 và cất cánh lần đầu tiên hồi tháng 1 năm nay.
Các màn nhào lộn của J-20.

J-20 dài 23 m và sải cánh là 14m.
 

J-20 đậu trên đường băng tại thành phố Thành Đô.
 



Một số người đứng vây quanh chiếc máy bay nguyên mẫu tại địa điểm thử nghiệm.

Họ đứng từ xa chụp ảnh máy bay...
 
... và chèo lên buồng lái.

read more

Trực thăng cảnh sát Trung Quốc rơi xuống hồ, 4 người mất tích

0 Nhận Xét :
4 người đã mất tích sau khi một máy bay trực thăng của cảnh sát Bắc Kinh hôm qua bất ngờ rơi xuống hồ chứa nước Miyun, ngoại ô Bắc Kinh - cảnh sát Trung Quốc xác nhận.

Trực thăm bất ngờ rơi xuống hồ chứa nước Miyun, ngoại ô Bắc Kinh.

Vụ việc xảy ra vào khoảng 9h12 sáng, khi máy bay đang trên đường trở về sau chuyến cứu hộ tại huyện miền núi Miyun, nơi vừa hứng chịu một đợt mưa lớn khiến nhiều người bị mắc kẹt.

4 thành viên trong tổ lái 5 người mất tích. Thành viên cuối cùng được đội cứu hộ cứu sống vào 1h30 chiều qua.

Bí thư Thành ủy Bắc Kinh Lưu Kỳ và Thị trưởng Bắc Kinh Quách Kim Long đã tới thị sát hiện trường ngay sau vụ tai nạn, đôn đốc triển khai công tác cứu hộ và xử lý sự cố.
Nguyên nhân tai nạn đang được điều tra.


read more

17 tháng 8, 2011

Mỹ “ngoại giao tàu sân bay” tại biển Đông

17 tháng 8, 2011
0 Nhận Xét :
Sự kiện được chú ý nhiều nhất, cho dù không được quảng bá rộng rãi, chính là chiếc hàng không mẫu hạm hạt nhân George Washington thuộc Hạm đội 7 của Mỹ, dừng lại ngoài khơi miền Nam Việt Nam ngày 13-8.

Một phái đoàn quan chức Việt Nam cùng nhiều nhà báo đã được máy bay đưa ra vùng biển quốc tế tiếp giáp hải phận Việt Nam, để tham quan chiếc hàng không mẫu hạm được mệnh danh là ngôi sao của hạm đội Thái Bình Dương Mỹ.

Đây không phải là lần đầu tiên chiếc George Washington được phái đến vùng biển gần hải phận Việt Nam để thực hiện điều có thể gọi là một "công tác ngoại giao". Cách đây đúng một năm, cũng vào tháng 8, chiếc tàu sân bay này đã đến neo đậu ngoài khơi Đà Nẵng, khi đó phía Mỹ cũng mời quan khách chính phủ và quân đội Việt Nam lên tham quan.

Trong một chừng mực nào đó, có thể nói bối cảnh của hai chuyến gọi là "ghé thăm hữu nghị" này khá giống nhau. Đó là vào lúc quan hệ Việt Nam-Trung Quốc đang căng thẳng vì những động thái hung hăng của Bắc Kinh nhằm áp đặt đòi hỏi chủ quyền của họ trên hầu như toàn bộ vùng biển Đông. Việc mời các giới chức chính quyền và quân đội Việt Nam lên tham quan hàng không mẫu hạm Mỹ còn được cho là nhằm mục đích phô trương một cách cụ thể ưu thế của hải quân Mỹ so với Trung Quốc, qua đó trấn an các nước đang muốn Mỹ hiện diện trong vùng để cân bằng uy lực của Bắc Kinh. Điều này thể hiện rõ trong phát biểu gần đây của ông David A. Lausman, sĩ quan chỉ huy tàu sân bay USS George Washington, rằng một con tàu trơ trọi không có giá trị gì, nếu không có kinh nghiệm hoạt động và một thủy thủ đoàn lành nghề.

Trong lúc Trung Quốc mới bắt đầu cho máy bay chiến đấu J-15 của họ tập bay lên và đáp xuống chiếc tàu sân bay mới hạ thủy, chỉ huy hàng không mẫu hạm Mỹ cho biết: "Thông thường, chúng tôi tiến hành khoảng 100 lần cất cánh và hạ cánh mỗi ngày. Đây là công việc mà chúng tôi có thể làm từ ngày này qua ngày khác, vì cần phải thường xuyên huấn luyện. Chính những điều đó tạo nên một hàng không mẫu hạm thực thụ, chứ không phải là cho một con tàu lớn nổi lên trên biển là xong".

1018533055_Anh_trang_16_so_168
Tàu sân bay USS George Washington vừa ghé thăm Việt Nam

Theo giới quan sát, chuyến ghé thăm Việt Nam chỉ là một phần trong hoạt động của hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ trong thời gian gần đây. Trước lúc đến vùng biển tiếp giáp Việt Nam, tàu sân bay George Washington đã ghé cảng Thái Lan và cũng tiếp đón quan khách Thái Lan lên thăm tàu.

Ngoài chiếc George Washington, từ ngày 12-8, một hàng không mẫu hạm khác của Mỹ là USS Ronald Reagan với thủy thủ đoàn hơn 5.000 người cũng bắt đầu ghé cảng Hồng Công trong 4 ngày. Dù chuyến thăm đã được dự tính từ lâu và được Trung Quốc chấp thuận, nhưng sự kiện này cũng có thể được xem là một phương thức mà hải quân Mỹ sử dụng để khẳng định sự hiện diện của họ trong khu vực.

Điều có thể gọi là chiến lược "ngoại giao tàu sân bay" của Mỹ tại vùng biển Đông sẽ đạt đỉnh cao cuối tháng này, khi toàn bộ hải đội hàng không mẫu hạm tấn công số ba của Hạm đội 7, với tàu sân bay hạt nhân USS John Stennis cùng tất cả đội tàu và phi cơ hộ tống, sẽ đến Manila biểu dương lực lượng nhân kỷ niệm 60 năm ngày ký kết Hiệp ước Quốc phòng tương hỗ Mỹ-Philippines. Cuộc phô trương thanh thế này cũng diễn ra trong bối cảnh Philippines đang bị Trung Quốc lấn lướt ở Biển Đông và đã cầu viện đến đồng minh Mỹ. Tất cả những hoạt động trên của hải quân Mỹ chứng tỏ một điều rằng Mỹ đang đẩy mạnh hoạt động "ngoại giao tàu sân bay" để tăng cường ảnh hưởng và trấn an các nước trong khu vực trước những lo ngại về sự đe dọa quân sự của Trung Quốc.

read more

Tàu sân bay Trung Quốc sẽ đến biển Đông

0 Nhận Xét :
Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc sẽ đến biển Đông vào năm 2012, tiết lộ này khác với những gì Trung Quốc cam kết với các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế là chỉ dùng vào việc nghiên cứu và huấn luyện.
 
Tàu sân bay Thi Lang cập cảng Đại Liên, Liêu Ninh (Trung Quốc) ngày 14-8 sau khi chạy thử nghiệm trên biển - Ảnh: China.org.cn

Ngày 16-8, Nhân Dân Nhật Báo dẫn nguồn từ báo Đô Thị Phương Nam cho biết tàu sân bay Thi Lang bước đầu sẽ đến hoạt động ở biển Đông vào ngày 1-8-2012 và nằm dưới sự chỉ huy của Ủy ban Quân ủy trung ương Trung Quốc. Thông tin trên được đưa ra hai ngày sau khi tàu sân bay này hoàn tất chuyến thử nghiệm trên biển Hoàng Hải.

Chuyên gia chiến lược quân sự hàng đầu của Trung Quốc Kiều Lương cho biết với tàu sân bay này, Trung Quốc sẽ mở rộng bán kính chiến đấu, tăng cường khả năng chiến đấu vượt xa ngoài chuỗi đảo đầu tiên. Ông Kiều cho rằng sự khống chế trên không là điều kiện tiên quyết trong các cuộc chiến của hải quân Trung Quốc, đặc biệt là ở những vùng nước nằm xa lục địa. Việc đưa tàu sân bay ra biển vào năm 2012 sẽ tăng cường khả năng chiến đấu cũng như sức mạnh ngăn chặn của hải quân Trung Quốc. “Tàu sân bay sẽ đảm bảo giải quyết êm xuôi dòng chảy năng lượng và nguồn tài nguyên từ các vùng biển quốc tế vào Trung Quốc. Nó cũng đảm bảo an ninh và lợi ích của lao động Trung Quốc đang hoạt động trên các vùng biển xung quanh” - ông Kiều nói.

Thế nhưng Thời báo Châu Á lại bình luận: “Tàu lớn nhưng cú đấm nhỏ ở biển Đông”. Trên thực tế, đây là tàu chiến lớn nhất ở châu Á và có thể giúp Trung Quốc thay đổi cục diện trên biển trong khu vực. Song tàu sân bay không thể giúp Trung Quốc khẳng định được chủ quyền ở biển Đông vốn là “nỗi đau đầu” lớn nhất của Bắc Kinh. Và sự hiện diện của con tàu có thể sẽ là “của nợ” gây khó khăn cho quá trình ngoại giao của Trung Quốc hơn là trở thành tài sản quân sự của nước này.

Với chiều dài 300m và nặng khoảng 60.000 tấn, có thể xem tàu Thi Lang là tàu chiến lớn nhất châu Á, bởi cho đến nay trong khu vực, ngoại trừ Thái Lan đang sở hữu tàu Chakri Narubet có thể chở máy bay chiến đấu, không nước nào có phương tiện này.

Thời báo Châu Á cho biết với một tàu sân bay đang sẵn sàng hoạt động và nếu nó được đặt ở căn cứ hải quân vốn đã được mở rộng ở Tam Á, đảo Hải Nam, thì có thể hình dung được Trung Quốc đang muốn thể hiện ý định duy trì sức mạnh vượt trội trên không ở bất kỳ điểm nào trên biển Đông. Giới chuyên gia nhận định có thể Trung Quốc xem đây là điều kiện tiên quyết cho các nỗ lực ngoại giao hoặc quân sự của họ nhằm thực thi tuyên bố chủ quyền trên biển cũng như buộc đối phương hủy bỏ mọi hoạt động thương mại, xây dựng chủ yếu trên các đảo ở biển Đông.

Cộng đồng quốc tế cũng đang hoài nghi về chức năng thật sự của tàu sân bay này, dù các quan chức quốc phòng Trung Quốc tuyên bố tàu Thi Lang chỉ để “phục vụ nghiên cứu khoa học và huấn luyện” cũng như chỉ hoạt động mang tính chiến lược. Song, ngay trước khi con tàu bắt đầu chuyến thử nghiệm trên biển Hoàng Hải, Tân Hoa xã lại đưa tin và viết: “Việc xây dựng hải quân hùng mạnh tương xứng với vị thế đang lớn mạnh của Trung Quốc là một bước cần thiết và là một lựa chọn không tránh né để bảo vệ lợi ích quốc gia ngày càng được toàn cầu hóa của Trung Quốc”. Điều này cũng có nghĩa là tàu sân bay Thi Lang sẽ hoạt động vượt xa hơn cái mà Trung Quốc cam kết là chỉ mang tính “chiến lược”.

Báo này cũng ghi nhận chỉ ngay sau khi chiếc tàu sân bay Thi Lang kết thúc bốn ngày chạy thử trên biển (từ ngày 10 đến 14-8), Nhân Dân Nhật Báo đã dẫn lại hàng loạt bài báo đăng trên các báo chính thức của Trung Quốc với nội dung gần như đi ngược với cam kết ban đầu của nước này với các nước khu vực và cộng đồng quốc tế.

read more

16 tháng 8, 2011

ASEAN và Ấn Độ đối phó với chương trình hiện đại hải quân của Trung Quốc

16 tháng 8, 2011
0 Nhận Xét :
Sau các thông tin về việc Trung Quốc thử nghiệm tàu sân bay đầu tiên, một số nước ASEAN có tranh chấp chủ quyền với Bắc Kinh trên Biển Đông đã tìm cách tăng cường sức mạnh hải quân. Trong khi đó, Ấn Độ cũng đã buộc phải tăng cường sức mạnh quân sự vì lo ngại Trung Quốc sẽ tìm cách tiến ra Ấn Độ Dương trong thời gian tới.

Theo báo Nhật Bản “Sankei”, một số nước ASEAN đã có các động thái tích cực nhằm đối phó với tàu sân bay Varyag của Trung Quốc. Tại Việt Nam, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh hồi đầu tháng 8/2011 cho biết Việt Nam sẽ mua của Nga 6 tàu ngầm 636MV lớp kilo trị giá 2 tỷ USD trong 5-6 năm tới để xây dựng biên đội tàu ngầm. Dù hiện sở hữu 2 tàu ngầm cỡ nhỏ nhưng các tàu này đã khá cũ và lạc hậu khiến Việt Nam phải lần đầu tiên hiện đại hóa tàu ngầm. Theo một nguồn tin từ Việt Nam, phía Ấn Độ cũng sẽ giúp một số công đoạn trong quá trình xây dựng biên đội tàu ngầm. Nhận định về kế hoạch này, chuyên gia phân tích quân sự Ian Storey, thuộc Viện nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS) có trụ sở tại Xinhgapo, cho rằng đây là một kế hoạch nhằm đối phó với sự xâm lược của Trung Quốc trên Biển Đông.

Không chỉ có Việt Nam, một số nước ASEAN khác - trong đó có cả Thái Lan - cũng đang tăng cường kế hoạch mua thêm nhiều tàu ngầm để đối phó với Trung Quốc. Một nguồn tin quân sự ASEAN giải thích rằng ngư lôi (phóng ra từ tàu ngầm) là biện pháp hữu hiệu nhất để đối phó với tàu sân bay của Trung Quốc. Hiện nay, khoảng cách về sức mạnh quân sự giữa Trung Quốc và các nước ASEAN rõ ràng có sự chênh lệch khá lớn. Do đó, Tổng thống Philíppin mới đây đã phải tuyên bố sẽ tăng cường sức mạnh hải quân và hiện đại hóa trang thiết bị nhằm bảo vệ lãnh thổ của nước này.

Trước nguy cơ đến từ Trung Quốc, ngân sách quốc phòng của toàn bộ các nước ASEAN đã tăng gấp 1,5 lần so với năm 2000. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của tàu sân bay Varyag, ngân sách này sẽ chắc chắn “phình to” hơn nữa. Theo một số chuyên gia quân sự, việc Trung Quốc chạy thử nghiệm tàu Varyag cũng sẽ khiến một số nước ASEAN tăng cường sự phụ thuộc vào “chiếc ô quân sự Mỹ”. Cụ thể, các nước này có thể tiến hành hỗ trợ hậu cần, trong khi sẽ nhận được từ Mỹ sự trợ giúp về mặt kỹ thuật quân sự, cách chỉ huy thông qua các cuộc tập trận chung và nâng cao trình độ tác chiến.

Cùng chung nguy cơ với ASEAN, Ấn Độ lo ngại rằng tàu Varyag trong tương lai sẽ được triển khai tới Ấn Độ Dương, vùng biển “sân sau” của nước này. Tuy nhiên, Niu Đêli cho rằng việc này sẽ còn phải mất thêm một thời gian và họ sẽ tận dụng khoảng thời gian đó để tăng cường sức mạnh hải quân. Chuẩn tướng hải quân Uday Bhaskar, cựu Giám đốc Viện nghiên cứu và phân tích quốc phòng (IDSA), cho rằng Trung Quốc từ lâu đã thể hiện mong muốn sở hữu tàu sân bay và việc chạy thử tàu Varyag chỉ là bước đi đầu tiên để hiện thực hóa tham vọng đó.

Hiện nay, Ấn Độ mới chỉ có 1 tàu sân bay nhưng đã có kế hoạch tăng lên thành 4 tàu trong thời gian tới. Theo kế hoạch, Ấn Độ sẽ hoàn thành việc tự chế tạo tàu sân bay trong tháng 12/2011 tới trong khi sẽ nhận tàu khác từ Nga trong tháng 12/2012. Bên cạnh đó, Niu Đêli cũng đẩy nhanh kế hoạch tự sản xuất và mua thêm một số tàu ngầm và tàu khu trục từ nước ngoài. Từ tháng 4/2010, Ấn Độ đã đưa vào sử dụng tàu khu trục INS Shivalik được trang bị công nghệ tàng hình và sắp sửa hoàn thành chiếc tàu thứ 2 ngay trong tháng 8/2011.

read more

15 tháng 8, 2011

Vị trí của Ôxtrâylia trong ván bài Mỹ - Trung Quốc ở Biển Đông

15 tháng 8, 2011
0 Nhận Xét :
Trong bài phân tích “Bluffing their way into crisis” đăng trên tờ "Người đưa tin Xítni buổi sáng" gần đây, giáo sư chuyên về nghiên cứu chiến lược thuộc Đại học quốc gia Ôxtrâylia (ANU) Hugh White nhận định Ôxtrâylia có thể đóng vai trò trung gian giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông.

Theo giáo sư Hugh White, người đồng thời cộng tác với Viện Chính sách quốc tế Lowy có trụ sở tại Xítni, trong vài tháng tới, mọi người sẽ được nghe nhiều về Biển Đông, khi các nhà lãnh đạo châu Á tham dự những cuộc họp thượng đỉnh thường niên. Ôxtrâylia không bận tâm tới việc ai sở hữu những bãi đá nổi và bãi đá ngầm rải rác trên vùng biển đó, nhưng Canbơrơ có một quyền lợi lớn trong cuộc chơi mưu mẹo giả-thật gây bực tức đang diễn ra ở đó.

Vấn đề này không còn liên quan đến chính bản thân những bãi đá nổi, hay thậm chí dầu mỏ và khí đốt có thể có xung quanh những bãi đá đó, mà là về sự kình địch ngày càng tăng giữa Mỹ và Trung Quốc xung quanh việc ai sẽ là người sử dụng quyền lực ở châu Á. Trừ phi cả hai nước này đều rất cẩn thận, một sự cố nhỏ ở quần đảo Trường Sa có thể hủy hoại quan hệ Mỹ-Trung, đẩy châu Á vào một cuộc khủng hoảng lớn, và phá hủy những nền tảng của chính sách đối ngoại Ôxtrâylia.

Các cuộc tranh chấp xung quanh quần đảo Trường Sa cũng như những đảo nhỏ khác trên Biển Đông đã tồn tại trong nhiều thập niên, nhưng đã có một bước ngoặt mới kể từ năm 2009 khi Trung Quốc, sau nhiều năm kiềm chế, bắt đầu thúc đẩy những tuyên bố chủ quyền của mình một cách quyết đoán hơn. Bắc Kinh bắt đầu bằng việc tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với gần như toàn bộ khu vực, coi đó là một "lợi ích quốc gia cốt lõi" và thực thi những tuyên bố chủ quyền đó một cách mạnh mẽ hơn, đặc biệt là đối với Việt Nam và Philíppin.

Điều này không phải là miễn phí đối với Trung Quốc. Hình ảnh được Trung Quốc nuôi dưỡng một cách kỹ càng về một người bạn rộng lượng của Đông Nam Á đã bị sứt mẻ nặng nề. Vậy tại sao Trung Quốc làm điều đó? Đáng tiếc, câu trả lời hợp lý nhất lại là điều gây lo lắng nhất: Người Trung Quốc giờ đây cảm thấy đủ mạnh để cư xử một cách kiêu căng hùng hổ. Sự quyết đoán ở Biển Đông chỉ là một dấu hiệu của điều này. Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Trung Quốc đã trở nên táo bạo hơn nhiều trong rất nhiều vấn đề, và đặc biệt táo bạo hơn trong những vấn đề về sức mạnh trên biển ở Tây Thái Bình Dương.

Do đó, điều này dường như là một thách thức trực tiếp và có chủ tâm đối với vị trí của Mỹ với tư cách là cường quốc biển quan trọng nhất ở châu Á. Đó chắc chắn là điều mà Oasinhtơn nhận thấy. Nhưng đó là một nước cờ dạo đầu mạo hiểm, bởi vì một cuộc xung đột với Mỹ sẽ là một thảm họa đối với Trung Quốc. Do vậy, Bắc Kinh có lẽ tin rằng Mỹ sẽ lùi bước và để cho Trung Quốc khẳng định những đòi hỏi bá chủ khu vực của Bắc Kinh. Điều gây khó chịu là Oasinhtơn đã phản ứng.

Kể từ năm ngoái, Mỹ đã có những bước tiến rõ ràng nhằm chống lại thách thức của Trung Quốc bằng cách đẩy mạnh sự ủng hộ của họ đối với Việt Nam và Philíppin. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tuyên bố ở Hà Nội rằng Mỹ có "những lợi ích quốc gia" ở Biển Đông. Các quan chức khác đã tái khẳng định những nghĩa vụ của Mỹ bảo vệ lãnh thổ Philíppin theo liên minh quốc phòng hai nước, và Hải quân Mỹ đã tiến hành các cuộc tập trận được quảng bá rộng rãi trong khu vực đó. Tất cả những điều đó đã phát đi một thông điệp rõ ràng rằng Oasinhtơn sẽ hậu thuẫn Hà Nội và Manila trong việc dũng cảm đương đầu với Bắc Kinh. Danh tiếng của Mỹ ở Đông Nam Á đã tăng lên, trong khi của Trung Quốc lại giảm đi.

Tất cả những điều đó nghe có vẻ tốt, nhưng những gì sẽ xảy ra tiếp theo? Hoàn toàn chưa rõ ràng. Vấn đề là Mỹ không thể có đủ điều kiện để tiến hành một cuộc xung đột với Trung Quốc và Trung Quốc càng không thể có đủ điều kiện cho một cuộc xung đột với Mỹ. Có một yếu tố mưu mẹo lớn trong lập trường của Mỹ, cũng như của Trung Quốc. Điều gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc lật tẩy mưu mẹo của Mỹ, giống như việc Mỹ đã lật tẩy trò của Trung Quốc? Trên thực tế, đó dường như chính xác là điều đang xảy ra. Chỉ vài tháng mới đây, Trung Quốc thậm chí mạnh mẽ hơn trong việc khẳng định những tuyên bố chủ quyền trên những vùng biển tranh chấp với Việt Nam , ví dụ, hai lần cắt các cáp thăm dò của các tàu thăm dò Việt Nam . Quá dễ dàng để hình dung xem điều đó sẽ dẫn đến đâu. Trong sự cố tiếp theo, Việt Nam sẽ đáp lại bằng cách tấn công và đánh chìm một tàu tuần tra của Trung Quốc, Trung Quốc đáp lại bằng cách đánh chìm một tàu của Việt Nam, và khi sự leo thang treo lơ lửng trên đầu, Việt Nam đề nghị Mỹ giúp đỡ.

Mỹ sẽ làm gì tiếp theo đó? Nếu Mỹ không làm gì hơn việc đưa ra những cảnh báo ngoại giao cứng rắn, mưu mẹo của Mỹ sẽ bị lật tẩy và vị trí của Oasinhtơn là cường quốc hải quân mang tính chi phối ở châu Á sẽ bị thất bại lớn. Uy tín của Mỹ ở Đông Nam Á sẽ lại sụt giảm mạnh, và Trung Quốc có một chiến thắng lớn. Nhưng nếu Mỹ đề nghị sự giúp đỡ về vật chất, đặc biệt là nếu Oasinhtơn phái các tàu của mình, thì họ có xu thế đối mặt với một nguy cơ lớn là bị lôi kéo vào một cuộc xung đột nghiêm trọng với Trung Quốc.

Và Ôxtrâylia cũng vậy. Gần đây, Ôxtrâylia và Nhật Bản đã tham gia một cuộc tập trận hải quân hỗn hợp với Mỹ ở Biển Đông mà không quảng bá rầm rộ. Cuộc tập trận này rất nhỏ, nhưng đó là điều hoàn toàn chưa có tiền lệ và do đó thông điệp mà cuộc tập trận phát đi là rất có sức mạnh. Thông điệp này là các đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở châu Á hậu thuẫn chính sách đẩy lùi Trung Quốc của Oasinhtơn. Do đó, nếu Trung Quốc phản pháo, có thể chắc chắn rằng người Mỹ sẽ tìm kiếm và mong đợi Ôxtrâylia ở đó để hỗ trợ họ nếu và khi nổ ra tiếng súng.

Tất nhiên, hy vọng là điều đó sẽ không xảy ra. Nhưng Mỹ và Trung Quốc đã tự đưa mình tới điểm mà cả hai bên đều không thể lùi bước mà xem ra không để thua trước nước kia. Trong những tình huống đó, cả hai nước sẽ rất dễ bị lôi cuốn vào một cuộc đối đầu toàn diện mà sẽ là một thảm họa cho tất cả mọi người.

Vậy Ôxtrâylia nên làm gì? Về ngắn hạn, Canbơrơ cần cố gắng thuyết phục cả hai phía rút lui mà không tìm cách giành một thắng lợi đối với bên kia. Cả Oasinhtơn lẫn Bắc Kinh đều sẽ không muốn nghe thông điệp này, và tự bản thân Ôxtrâylia không thể làm nhiều để thuyết phục họ, nhưng Canbơrơ không phải làm một mình. Những lợi ích của Ôxtrâylia trong việc tránh một cuộc chiến tranh Mỹ-Trung được các đồng minh châu Á của Canbơrơ chia sẻ. Việc dẫn dắt sức nặng tập thể của các cường quốc hạng trung ở châu Á nhằm thuyết phục cả hai bên hạ nhiệt và lùi bước cần có dạng "ngoại giao cường quốc hạng trung tích cực" mà Kevin Rudd (cựu Thủ tướng, hiện đang làm Ngoại trưởng Ôxtrâylia) luôn nói tới. Và với việc các nhà lãnh đạo châu Á sẽ gặp nhau trong vài tháng tới, giờ là lúc để làm điều đó.

Về lâu dài, Ôxtrâylia sẽ tránh được các trận đấu đi, đấu lại không ngừng dưới dạng nguy hiểm này nếu Mỹ và Trung Quốc có thể lập ra một trật tự mới ở châu Á. Mỹ phải học cách thừa nhận và điều chỉnh với sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc, và Trung Quốc phải chấp nhận một vai trò trung tâm và liên tục của Mỹ. Nếu không, Thế kỷ châu Á thực sự lại là một khoảng thời gian tối tăm.

read more

13 tháng 8, 2011

Varyag - số phận con tàu sân bay mồ côi

13 tháng 8, 2011
0 Nhận Xét :
Con tàu chiến Varyag của một siêu cường cũ - Liên Xô - dần được nâng cấp và trở thành tàu sân bay đầu tiên của một siêu cường tương lai - Trung Quốc. Giờ đây, thế giới lại có những lo lắng mới về nó.

Con tàu này từng là một trong những sứ mệnh cuối cùng của hải quân Liên Xô, nhưng công việc xây dựng tại xưởng đóng tàu Mykolaiv ở Biển Đen đã bị ngừng trệ vào năm 1992 khi Liên Xô sụp đổ. Sự “tiều tụy và xuống cấp” của Varyag tiếp tục diễn ra cho tới năm 1998, khi được một công ty Trung Quốc ở Macau có những liên quan chặt chẽ tới hải quân Trung Quốc mua lại từ Ukraine, với tuyên bố sẽ biến nó thành một sòng bạc nổi.



Quan chức Thổ Nhĩ Kỳ từng lo lắng rằng, con tàu 300m này - khi chỉ còn là lớp vỏ gỉ sét, không vũ khí, động cơ hay thiết bị dẫn đường - sẽ bị chìm lúc đi qua eo biển Bosphorus, gây nên vấn đề môi trường và ảnh hưởng tới hàng hải. Bởi thế, họ trì hoãn kế hoạch đi qua eo biển của nó trong 3 năm và chỉ chấp thuận vào năm 2001 để nó tiếp tục hành trình tới Thái Bình Dương.

Bến cảng của Macau không bao giờ đủ sâu với tàu Varyag. Con tàu chiến mồ côi của một siêu cường cũ, với thiết kế kiểu nhảy cầu cho máy bay cất cánh, trên thực tế lại neo đậu ở thành phố cảng Đại Liên phía đông bắc Trung Quốc. Ở đó, nó dần dần được nâng cấp và trở thành tàu sân bay đầu tiên của một siêu cường tương lai. Giờ đây, thế giới lại có những lo lắng mới về con tàu cũ Varyag.


Vỏ bọc cho sứ mệnh cao cả

Ngày 10/8, con tàu được nâng cấp đã từ Đại Liên ra biển cho chuyến thử nghiệm đầu tiên. Vỏ bọc sòng bạc nổi che giấu thân phận con tàu bấy lâu đã không còn, tàu ra khơi với nhiệm vụ, sứ mệnh cao cả: phô diễn sức mạnh quân sự của Trung Quốc trên biển cả.

Việc hạ thủy Varyag diễn ra trong thời gian khá nhạy cảm. Lực lượng vũ trang của Trung Quốc đang tăng tốc hiện đại hóa - chi tiêu quân sự tăng trung bình hàng năm vào khoảng 15% kể từ năm 2000 - và sau cả thập niên dài “ve vãn” khu vực Đông và Đông Nam Á, Bắc Kinh bắt đầu có lập trường cứng rắn và gây hấn hơn trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ.

Một số nhân tố dẫn đến cách tiếp cận cứng rắn này như khả năng các vùng biển tranh chấp chứa đựng nguồn dự trữ năng lượng giá trị; tham vọng thách thức ảnh hưởng khu vực của Mỹ; sự hiện diện lớn của chủ nghĩa dân tộc và nỗi sợ hãi sẽ yếu đi trước sự chuyển giao thế hệ lãnh đạo mới. “Đặc điểm thái độ của Trung Quốc dường như ngày càng quả quyết hơn”, Clive Schofield, giám đốc nghiên cứu Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và an ninh đại dương của Australia nói.

Những nước láng giềng Trung Quốc đã phản ứng bằng những tuyên bố cứng rắn và thể hiện rõ thái độ của mình. Năm ngoái, Trung Quốc và Nhật Bản đã có cuộc tranh cãi kịch liệt về một quần đảo ở biển Hoa Đông thuộc sự quản lý của Nhật, nhưng do cả hai nước cùng tuyên bố chủ quyền, có tên gọi là Điếu Ngư (theo tiếng Trung Quốc) và Senkaku (tiếng Nhật). Khi Nhật bắt giữ thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc ở gần quần đảo này, Trung Quốc đã phản ứng quyết liệt. Hai tuần sau đó, Nhật Bản thả vị thuyền trưởng và người này trở về trong sự tôn vinh như người hùng ở Trung Quốc.

Mùa hè năm nay, các tàu chiến Trung Quốc đã đi qua vùng biển quốc tế gần Okinawa, và làm Tokyo bất an. Trong Sách Trắng Quốc phòng xuất bản sau đó, Nhật Bản cho rằng, chương trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc, việc gia tăng các hoạt động ở vùng biển châu Á và sự thiếu minh bạch “gây ra sự lo lắng trong khu vực và cộng đồng quốc tế”.


Lời cảnh báo

Tại Biển Đông, tranh chấp còn xảy ra nhiều hơn. Vùng biển 3 triệu km vuông với những hòn đảo nhỏ, và rất nhiều khu vực trong đó được tin là giàu trầm tích dầu và khí tự nhiên. Căng thẳng đã leo thang giữa Trung Quốc - nước đưa ra tuyên bố chủ quyền với hầu hết Biển Đông và một số quốc gia châu Á cũng có tuyên bố chủ quyền trong vùng biển. Philippines, quốc gia lên tiếng cáo buộc các tàu Trung Quốc quấy nhiễu tàu thăm dò dầu khí, tàu cá ít nhất sáu lần kể từ đầu năm trở lại đây, đã tuyên bố đổi tên vùng biển là Biển Tây Philippine và sẽ điều động tàu hải quân - tàu khu trục thời Thế chiến II Rajah Humabon, tuần tra trong vùng. Việt Nam thì cáo buộc các tàu Trung Quốc hai lần cắt cáp tàu thăm dò dầu khí vào mùa hè này, khi các tàu hoạt động trong phạm vi chủ quyền của Việt Nam.

Tranh chấp ở các vùng biển châu Á đã thu hút Mỹ. Năm ngoái, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã tuyên bố, Mỹ có một “lợi ích quốc gia” trong tự do hàng hải ở Biển Đông và đề xuất rằng, Washington có thể trợ giúp giải quyết tranh chấp khi đóng vai trò trung gian hòa giải. Trung Quốc đã phản ứng đầy tức giận và khẳng định, Mỹ muốn “quốc tế hóa” vấn đề mà chỉ cần giải quyết giữa các nước láng giềng có liên quan. Một số nhà quan sát hình dung là Bắc Kinh sẽ có cách tiếp cận ít “đối kháng” hơn trong năm 2011, khi chứng kiến sự tham gia lớn hơn của Mỹ trong các vấn đề khu vực. “Điều đó đã không xảy ra”, Ian Storey, nhà nghiên cứu tại Học viện Nghiên cứu Đông Nam Á Singapore nói hồi tháng 6. "Trong thực tế, căng thẳng đã gia tăng trong hai hoặc ba tháng qua, có lẽ ở mức độ cao hơn những gì kể từ thời chấm dứt chiến tranh Lạnh”.

Ngày 20/7, Trung Quốc và ASEAN tuyên bố đạt được nhất trí về các hướng dẫn không mang tính ràng buộc về một thỏa thuận có thể giải quyết tranh chấp Biển Đông, tuy nhiên, các bất đồng vẫn khó thu hẹp. Thôi Thiên Khải, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã cảnh báo, Mỹ có nguy cơ dính dáng vào một cuộc xung đột khu vực nếu không làm việc để kiềm chế các quốc gia khác. “Tôi tin là cá nhân mỗi nước thực sự đang chơi với lửa”, ông nói trước báo giới vào cuối tháng 6. “Tôi hy vọng rằng, Mỹ sẽ không bỏng tay với ngọn lửa ấy”.

Giữa tháng 7, tướng Trần Bỉnh Đức, Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc (PLA), công khai phàn nàn với người đồng cấp Mỹ - đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân - về chi tiêu quân sự của Mỹ, về các hoạt động giám sát hàng hải ở gần biên giới của Trung Quốc và các cuộc tập trận chung với một số nước trong khu vực mà ông cho là “diễn ra trong thời gian không thích hợp”. Về phần mình, ông Mullen nói sau chuyến công du Trung Quốc 4 ngày rằng ông không bị thuyết phục bởi lập luận các tiến bộ quân sự Bắc Kinh hoàn toàn mang tính chất phòng thủ tự nhiên, và lo ngại xung đột ở Biển Đông “có thể leo thang, có thể dẫn tới hiểu lầm, và một sự cố hay sự hiểu lầm sẽ dẫn tới những rủi ro lớn hơn”.

read more

12 tháng 8, 2011

Ấn Độ: cường quốc mới đối trọng Trung Quốc ở Châu Á

12 tháng 8, 2011
0 Nhận Xét :
Trong bài viết nhan đề "Ấn Độ: Trỗi dậy hay hồi sinh ?" trên tạp chí "Địa chính trị", Ông Jean-Luc Racine, Giám đốc nghiên cứu thuộc Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ và Nam Á, phân tích điểm mạnh yếu, hạn chế cũng như lợi thế của Ấn Độ, và nhận định rằng Ấn Độ là nước có khả năng trở thành cường quốc mới và một đối trọng với Trung Quốc ở châu Á

Khi nói đến kinh tế, các nước mới trỗi dậy được nói đến nhiều trong thời gian gần đây, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin. Ngoại trừ Trung Quốc hiện là nền kinh tế thứ hai thế giới, sau Mỹ, đang quyết tâm cạnh tranh vị trí siêu cường số một của Mỹ, với sức mạnh kinh tế, tiềm năng quân sự, sức nặng về dân số, Ấn Độ được xem là nước có khả năng trở thành cường quốc mới và một đối trọng với Trung Quốc ở châu Á.

Châu Á đang lớn mạnh theo từng giai đoạn. Nhật Bản bắt đầu chuyển mình từ năm 1868 khi bước vào Thời kỳ Minh Trị Duy Tân trước khi đánh thắng Nga năm 1905 và công khai chính sách bành trướng trong những năm 1930. Sau năm 1945, Nhật Bản đứng dậy từ đống đổ nát và trở thành một cường quốc kinh tế tầm cỡ trong ba chục năm bằng con chủ bài là sáng tạo. Nước Trung Quốc từ năm 1978 đã bắt đầu biến chuyển về kinh tế với "Bốn hiện đại" của Đặng Tiểu Bình. Rồi xuất hiện "bốn con rồng": Hàn Quốc, Đài Loan, Xinh-ga-po và Hồng Công. Tiếp đó là những "con hổ châu Á", những nước xuất khẩu mới và cũng là những nước có biển: In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Philíppin và Brunây. Sự xuất hiện của Ấn Độ trong cuộc chơi sau khi điều chỉnh chính sách kinh tế năm 1991 đã dẫn đến sự hình thành hai trào lưu. Một mặt, Ấn Độ trở lại với châu Á, nghĩa là không còn là một nước đứng ở giữa hai châu lục nữa, một thế giới riêng nữa, mà từ nay là nước được tính tới vì chính Ấn Độ cũng như vị thế ngày càng cao của nước này trên bàn cờ châu Á. Cách đây 15 năm, khi các giới kinh tế và chiến lược nghĩ đến "châu Á" thì nghĩ ngay đến châu Á-Thái Bình Dương. Từ nay, Ấn Độ cũng được biết tới, và nếu Trung Quốc hiển nhiên được nói đến nhiều nhất, thì cũng là bình thường nếu nghe nói "Trung Quốc và Ấn Độ…". Mặt khác, Ấn Độ bắt đầu có ảnh hưởng đến hệ thống thế giới. Chính phủ nước này kêu gọi cải cách chính sách đa phương được thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ Hai trong khi các doanh nghiệp năng động nhất của nước này trở thành các công ty xuyên quốc gia.

Ấn Độ chưa phải là một cường quốc lớn, song trở thành một tác nhân trên sân khấu lớn thế giới. Nước này đã thay đổi cách nhìn về mình cũng như cách nhìn đối với thế giới. Thế giới đã bắt đầu thay đổi nhãn quan về Ấn Độ. Nhận thức đó là mới và trở thành nhãn quan chung từ vài năm trở lại đây, khi tỷ lệ tăng trưởng của Ấn Độ vượt quá 8% vào năm 2003, rồi 9% trong năm 2005 và trong ba năm liền. Kể cả sau cuộc khủng hoảng khiến tăng trưởng của Ấn Độ chậm lại, nước này trong giai đoạn chuyển tiếp rõ ràng là một nước mới trỗi dậy. Tầm cỡ kinh tế của tiến trình đó không phải là yếu tố duy nhất cho dù nó xác định cơ sở của một nước Ấn Độ mới. Lớn mạnh được dĩ nhiên phải có tầm cỡ ngoại giao và chiến lược, đồng thời cũng phải xuất phát từ một luồng tư tưởng, song điều quan trọng là phải đưa trở lại luồng tư tưởng đó vào lịch sử của Ấn Độ trong thế kỷ 20.

Từ nô lệ đến trỗi dậy: ba giai đoạn

Nước Ấn Độ độc lập được xây dựng trên hai nền tảng. Thứ nhất là phong trào dân tộc đấu tranh chống Đế chế Anh trong thế kỷ 19, với sự xuất hiện của mầm mống đổi mới. Các nhà cải cách lớn xuất hiện và nỗ lực tiến hành đổi mới. Do bị đô hộ nên Ấn Độ thiếu cái thiết yếu để tiến hành cách mạng công nghiệp. Các trường đại học đầu tiên ra đời năm 1857 góp phần sản sinh một giới tinh hoa mới, tân tiến, nói tiếng Anh. Một thế hệ sau, giới tinh hoa muốn chính quyền Anh thừa nhận sự tồn tại của mình và được có chân trong giới quyền lực. Trong những năm 1920-1940, phong trào dân tộc tìm cách vượt qua đa dạng ngôn ngữ và tôn giáo ở Ấn Độ, song thất bại một phần vì nước này bị chia cắt năm 1947 và việc thành lập nước Pakixtan.

Với nền độc lập, trụ cột thứ hai của sự trỗi dậy của Ấn Độ được hình thành. Ấn Độ thời hậu thực dân dựa trên 4 hình mẫu: về chính trị là nền dân chủ đại nghị làm cơ sở, về kinh tế là hàng rào bảo hộ và một Nhà nước có sức nặng đáng kể trong sản xuất các mặt hàng chủ chốt và dịch vụ mang tính quyết định nhưng không hủy hoại khu vực tư nhân, về ngoại giao là lập trường không liên kết bác bỏ Chiến tranh Lạnh, và cuối cùng là khoa học công nghệ phục vụ dân tộc. Trên thực tế, Ấn Độ chưa bao giờ là một nước xã hội chủ nghĩa theo nghĩa như ở các nước Đông Âu hay một số nước thế giới thứ ba. So với các "con rồng châu Á" và Trung Quốc, tăng trưởng của Ấn Độ thuộc loại thường và đói nghèo có giảm đôi chút. Song những năm của Nehru đã đặt nền móng cho một tiềm năng ngày nay bắt đầu có hiệu lực.

Giai đoạn thứ ba là thời kỳ chuyển tiếp trong những năm 1990 với cải cách và chính sách kinh tế mới, chủ nghĩa bảo hộ được xóa bỏ, quy định mềm dẻo hơn đối với đầu tư nước ngoài. Tăng trưởng kinh tế tăng dần từ 5,5% (thời kỳ 1985-1990) lên 6,6% (1992-1997) rồi từ năm 2002 tăng dần lên mức 9,6%. Về sức mua, Ấn Độ vươn lên hàng thứ tư thế giới, sau Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản, trước Đức. Với Tổng sản phẩm quốc nội ước tính 1.235 tỷ USD, Ấn độ đứng thứ 10 thế giới trong một thời gian tương đối dài, nhưng vẫn là nền kinh tế thứ ba ở châu Á, trong khi Trung Quốc tiến nhanh.

Ấn Độ cũng tự khẳng định mình về phương diện chiến lược. Nếu năm 1991 đánh dấu bước khởi đầu của tiến trình tự do hóa kinh tế có chọn lọc, thì năm 1998 đánh dấu bước ngoặt quyết định trong vị thế chiến lược của Ấn Độ với vụ thử hạt nhân quân sự công khai đầu tiên để đối phó với mối đe dọa ở biên giới. Chính sách kinh tế mới được đảng Quốc Đại tiến hành phù hợp với tình hình thế giới. Như vậy, Ấn Độ chắc chân bước vào một thời kỳ mới trong lịch sử của mình: thời kỳ hậu-hậu thực dân và đến thời trỗi dậy thay cho xây dựng đất nước.

Nước Ấn Độ hậu-hậu thực dân

Thời kỳ hậu-hậu thực dân được khẳng định trong những năm 2000 với việc Ấn Độ quyết định gác lại quá khứ để hướng về tương lai với một sự tự tin mới và một thế giới quan mới. Nhiều yếu tố giúp Ấn Độ có được hình ảnh mới đối với thế giới.

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế là yếu tố cơ bản, tăng liên tiếp từ sau năm 2005 với 3 năm liền đạt mức trên 9%. Các ngành kinh tế cũng lớn mạnh. Con chủ bài rõ rệt nhất góp phần hiện đại hóa Ấn Độ là việc các doanh nghiệp tin học lớn sản xuất công nghệ thông tin đặt được chân vào thị trường quốc tế và mở đường cho nước này tiến vào thị trường các nền kinh tế tiên tiến. Ấn Độ bỏ lỡ hai cuộc cách mạng công nghiệp, song là một phần của cuộc cách mạng tin học và số. Các ngành dịch vụ khác cũng rất năng động: thuốc chữa bệnh, sản xuất hàng công nghiệp, sản xuất xe hơi giá rẻ, ôtô điện, mua lại một số hãng xe hơi nổi tiếng. Doanh nghiệp Nhà nước từ chỗ làm ăn không có hiệu quả nay đầu tư mạnh ra châu Á và Trung Đông, đặc biệt về dầu khí.

Thứ hai, quyền lực mềm với các mạng lưới của giới tinh hoa Ấn Độ nói thạo tiếng Anh có mặt ở Mỹ, tạo thành một cộng đồng hơn 2 triệu người hoạt động tích cực trong ngành kinh doanh, sáng chế, trường đại học và nghiên cứu, và hiện nay cả trong giới cầm quyền cấp bang cũng như liên bang. Người Ấn Độ ở Mỹ còn có cả một nhóm vận động hành lang trong Hạ viện Mỹ (Ủy ban Hành động Chính trị Mỹ-Ấn - USINPAC) làm việc vì lợi ích của cộng đồng cũng như để tăng cường mối quan hệ Mỹ-Ấn. Chính quyền nước này không quên lợi ích của người Ấn Độ ở nước ngoài, dù họ còn giữ quốc tịch Ấn Độ hay không. Từ năm 2003, vào ngày 9/1 hàng năm, Ấn Độ tổ chức cuộc gặp rộng rãi để vinh danh cộng đồng người Ấn Độ ở nước ngoài. Thứ quyền lực mềm của Ấn Độ đó cũng thể hiện trong lĩnh vực văn học và tri thức.

Thứ ba là về ngoại giao và chiến lược. Từ sau bước ngoặt trong những năm 1990-2000, địa chính trị của Ấn Độ đã thay đổi đáng kể, song vẫn giữ cơ cấu cũ. Không có gì thay đổi nhiều trong không gian vùng lân cận do không tiến tới được bình thường hóa quan hệ với Pakixtan tuy có đối thoại từ năm 2004. Vấn đề Casơmia vẫn tồn tại chừng nào phái quân sự ở Pakixtan không chịu chấp nhận giả thiết đã được thảo luận dưới thời Tổng thống Musharraf: giữ nguyên trạng phần lãnh thổ không nhất thiết phải được thừa nhận trong hiệp ước. Do Ấn Độ không khéo léo trong kiểm soát vấn đề Casơmia nên tình hình phức tạp thêm: sự có mặt đông đảo về quân sự, đàn áp và ý đồ đối thoại không thành với phái ly khai làm mất lòng tin của số đông người dân ở vùng này. Ít nhất răn đe hạt nhân đã được đề cập đến trong cuộc chiến tranh Kargil năm 1999 và trong các vụ khủng bố năm 2001. Giả thiết chiến tranh hạn chế bằng vũ khí hạt nhân rốt cuộc được cho là quá mạo hiểm. Về phương diện quân sự, Ấn Độ tăng cường khả năng với chương trình đạn đạo tầm ngắn, tầm trung và tầm xa và tăng cường sức mạnh của Hải quân. Đối thoại được tiến hành với Chính quyền Bush về chương trình chống tên lửa, song không có quyết định nào được đưa ra. Về mặt hạt nhân, Ấn Độ vẫn duy trì đường lối như năm 1998: tìm kiếm "răn đe tối thiểu đáng tin cậy", gia hạn các vụ thử, không đánh đòn hạt nhân trước. Ấn Độ có khoảng 70 đầu đạn hạt nhân (con số không chính thức) đặt dưới sự kiểm soát của một bộ chỉ huy chiến lược liên quân mới thành lập năm 2003, nhưng muốn sử dụng phải được chính quyền dân sự quyết định.

Sau Chiến tranh Lạnh và sau khi Liên Xô sụp đổ, Ấn Độ thấy cần phải xem xét lại vị thế ngoại giao của đất nước, hơn nữa thế giới hai cực trước đây không còn trong khi Trung Quốc lớn mạnh. Trật tự thế giới mới buộc Ấn Độ phải xích lại gần với Mỹ và bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Đồng thời Ấn Độ phải giữ quan hệ tốt với Nga, nước vẫn là một nhà cung cấp vũ khí và công nghệ quan trọng, và tăng cường sự có mặt của mình trong cái được gọi là "khu vực láng giềng mở rộng", một không gian trải dài từ Trung Đông đến Đông Nam Á, từ Trung Á đến Ấn Độ Dương. "Chính sách hướng Đông" được đưa ra từ năm 1992 hướng đến Đông Nam Á phải sau một thời gian mới có kết quả, nếu không nói đến sự phát triển quan hệ thương mại. Sau khi tăng cường quan hệ với ASEAN trong những năm 1990, dấu hiệu thực sự về sự thay đổi quy chế xuất hiện năm 2005, khi Ấn Độ được mời tham dự Hội nghị cấp cao Đông Á đầu tiên, một diễn đàn đối thoại hàng năm bao gồm phần lớn các nước châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có cả Ôxtrâylia và Niu Dilân. Đối với Trung Đông, kết quả còn hạn chế do căng thẳng trong vùng và các cuộc chơi quốc tế diễn ra ở đây. Tuy nhiên, đó là một vùng quan trọng đối với Ấn Độ do sức nặng của cộng đồng người Ấn Độ (nhất là ở vùng Vịnh) và đây là nguồn cung cấp dầu mỏ.

Mối quan hệ với Trung Quốc lại phức tạp. Trao đổi thương mại phát triển mạnh (3 tỷ USD vào năm 2000, 60 tỷ dự kiến cho năm 2010) và phải một thời gian dài sau cuộc chiến tranh năm 1962, hai nước nối lại các cuộc gặp cấp cao thường kỳ từ sau chuyến thăm Trung Quốc của Rajiv Gandhi năm 1988. Các hiệp định ký kết năm 1993 "nhằm gìn giữ hòa bình và yên tĩnh" dọc biên giới tranh chấp, rồi vào năm 1996 để "thiết lập biện pháp xây dựng lòng tin về quân sự" dọc biên giới, tuyên bố năm 2003 về "nguyên tắc hợp tác" song phương, thiết lập năm 2005 "quan hệ hợp tác chiến lược vì hòa bình và ổn định", là những giai đoạn của một cuộc đối thoại đầy rẫy những nghi kỵ lẫn nhau, nảy sinh ở Ấn Độ là do Trung Quốc vươn ra Ấn Độ Dương, tăng cường sức mạnh quân sự, lại tỏ thái độ cứng rắn về bất đồng biên giới dọc theo đường Mac Mahon ở phía Đông hay tại Casơmia ở phía Tây. Còn Trung Quốc vẫn bị phân tán tư tưởng do sự có mặt của Đạtlai Lạtma ở Ấn Độ và nghi ngờ những gì tăng cường mối quan hệ giữa Mỹ và các nền dân chủ ở châu Á cũng như việc mở rộng mối quan hệ song phương giữa Ấn Độ và Nhật Bản.

Nên hiểu cuộc chơi quy mô của Ấn Độ trên bàn cờ châu Á dưới ánh sáng của sự phát triển nổi bật nhất trong 20 năm trở lại đây về phương diện ngoại giao: đó là sự xích lại gần nhau chưa từng có giữa Ấn Độ và Mỹ. Do Mỹ không hiểu chính sách không liên kết nên đã hạn chế tiềm năng đồng thuận giữa hai nước. Chiến tranh Lạnh chấm dứt phần nào đã phân chia lại quân bài về phương diện này. Các vụ thử hạt nhân năm 1998 tuy dội gáo nước lạnh (Bill Clinton áp đặt trừng phạt chống Ấn Độ và Pakixtan), song lại dẫn đến một cuộc đối thoại nhanh chóng giúp hai nước xích lại gần nhau. Chuyến thăm Ấn Độ cấp Nhà nước của Tổng thống Bill Clinton vào tháng 3/2000 đã thành công. Song các bước tiến ngoạn mục nhất lại diễn ra dưới thời Tổng thống Bush khi các nhà tân bảo thủ gần gũi với ông muốn chơi con bài Ấn Độ để kiềm chế sự lớn mạnh của Trung Quốc, hay ít ra là để tìm cách cân bằng lại nước này. Trong nhiệm kỳ hai của Tổng thống Bush, Nhà Trắng khẳng định lại ý muốn "giúp Ấn Độ trở thành một cường quốc thế giới vào thế kỷ 21". Năm 2004, Ấn Độ và Mỹ ký hiệp định hợp tác có tên gọi "Những bước tiếp theo trong mối quan hệ đối tác chiến lược" (NSSP) liên quan đến 3 lĩnh vực: hoạt động hạt nhân dân sự, chương trình không gian, kể cả dân sự, và buôn bán công nghệ cao. Từ năm 2005, thương lượng được tiến hành giữa hai nước để tiến tới thỏa thuận về hạt nhân dân sự. Và điều đó đã đạt được sau một cuộc chạy đua vượt chướng ngại vật thật sự. Trở ngại ở trong nước Mỹ, nhằm sửa đổi luật của Mỹ từ năm 1954 chi phối thương mại hạt nhân dân sự. Trở ngại ở Ấn Độ, nơi phái tả cộng sản, vốn ủng hộ chính phủ Manmohan Singh nhưng không tham gia chính phủ, rốt cuộc không ủng hộ chính phủ đó nữa với lý do xích lại gần quá với Mỹ. Trở ngại ở bên ngoài, vì dự thảo thỏa thuận phải được các nước thành viên Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (trong đó có Trung Quốc và Pakixtan) và các nước thành viên Nhóm Cung cấp Hạt nhân, thông qua, khi Ấn Độ cam kết tách chương trình dân sự khỏi chương trình quân sự và đặt chương trình dân sự dưới sự kiểm soát của IAEA.

Tuy nhiên, sự xích lại gần nhau giữa Ấn độ và Mỹ không có nghĩa là liên minh. Nói cho đúng hơn là hợp tác song phương, với điều kiện của Ấn Độ là nước này không bị coi là "đối tác nhỏ". Ấn Độ không muốn bị biến thành công cụ trong chính sách kiềm chế Trung Quốc, cũng không chấp nhận mọi điều khoản hợp tác quân sự do Mỹ đưa ra. Nói cách khác, nước Ấn Độ đang trỗi dậy muốn lợi dụng mối quan tâm của Mỹ đối với mình vì lý do kinh tế, tư tưởng và chính trị, song với cái giá phải trả là tính tự chủ quốc gia suy giảm. Song không phải vì xích lại gần với Mỹ, một sự kiện có tính lịch sử, mà Ấn Độ không tiếp tục thực hiện ngoại giao đa phương, một chính sách về phương diện nào đó cho thấy sự kế tục tinh thần không liên kết trong thời kỳ mới.

Là cường quốc đang lên, Ấn Độ muốn trong một thời gian ngắn trở thành một trong những cực của thế giới mới. Nhưng đồng thời, Ấn Độ cũng tìm cách cùng với một số nước Nam khác xác định lại cấu trúc đa phương của trật tự thế giới. Bốn ví dụ cho thấy điều đó. Cốt lõi của hệ thống Liên hợp quốc là Hội đồng Bảo an (HĐBA) và 5 thành viên thường trực. Ấn Độ từ lâu đã phê phán sự bá quyền có từ năm 1945 đó và đề nghị mở rộng thành phần thành viên thường trực. Năm 2004, cùng với Nhật Bản, Braxin và Đức, Ấn Độ đặt vấn đề đó trực tiếp hơn bao giờ hết tại diễn đàn LHQ. Pháp, Anh và Nga ủng hộ. Trung Quốc lần lữa và Mỹ cũng như vậy cho đến khi, trong bài phát biểu trước Nghị viện Ấn Độ ngày 8/11/2004, Tổng thống Barack Obama cũng lên tiếng ủng hộ triển vọng mở rộng này. Mặt trận thứ hai: vấn đề tái cân bằng cũng được đặt ra trong Quỹ tiền tệ quốc tế. Vai trò của Ấn Độ và một số nước mới trỗi dậy khác (trong đó có Trung Quốc) bắt đầu tăng lên so với một số nước châu Âu. Mặt trận thứ ba: tại Tổ chức thương mại thế giới, từ năm 2003, Ấn Độ đi đầu cùng với nhiều nước “phương Nam” khác yêu cầu Liên minh châu Âu và Mỹ giảm trợ giá ồ ạt cho nông dân vì tình trạng này làm rối loạn các quy định về cạnh tranh, không có lợi cho nông dân các nước “phương Nam”. Mặt trận thứ tư: cuộc đấu tranh chống hiệu ứng biến đổi khí hậu. Tại Hội nghị thượng đỉnh Côpenhaghen năm 2009, Ấn Độ và Trung Quốc từ chối xác định chính sách môi trường dưới sự thúc ép của quốc tế vì cho rằng các nước tiên tiến, công nghiệp hóa từ thế kỷ 19 phải chịu trách nhiệm chính về lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính và các nước này không thể ngăn cản các nước đang phát triển tham gia cuộc chạy đua tăng trưởng. Hai nước cũng hoạch định các chương trình nhằm thúc đẩy một nền "kinh tế xanh".

Giữa đơn cực và đa cực, Ấn Độ một khi đã tham gia hoạt động Bắc-Nam để cải tổ HĐBA, phải chơi con bài đồng thuận Nam-Nam ở mức cao nhất có thể, tại Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng như tại Côpenhaghen. Đồng thời, Ấn Độ cũng phải tăng cường các mạng lưới Nam-Nam có trọng tâm. Do có mặt ngày càng nhiều ở châu Phi nên Ấn Độ, sau Trung Quốc, tổ chức một cách có hệ thống các cuộc họp với các đối tác châu lục. Cùng với Nam Phi và Braxin, Ấn Độ góp phần tạo ra trục xuyên lục địa giữa các nước mới nổi lớn: đó là tổ chức IBSA ra đời năm 2003 bao gồm Ấn Độ, Braxin, Nam Phi, rồi nhóm BASIC với sự tham gia của Braxin, Nam Phi, Ấn Độ và Trung Quốc.

Những hạn chế của sức mạnh

Trong tiến trình chuyển tiếp quy mô đã được khởi động, một phần của nước Ấn Độ mới nổi vẫn "chìm". Về Tổng sản phẩm quốc nội, Ấn Độ đứng ở hàng thứ 10, thậm chí thứ 5 thế giới, song về Chỉ số Phát triển Con người (HDI) lại khác. Xếp ở vị trí thứ 119, Ấn Độ đứng giữa Cáp Ve và Timor Leste, cùng nhóm với Pakixtan (xếp thứ 125), Bănglađét (thứ 129), cách xa Trung Quốc (thứ 89), Braxin (thứ 73) và Nga (thứ 65). Ấn Độ cũng thua xa các thành viên khác của nhóm BRICS. Với 3.015 USD thu nhập tính theo đầu người, Ấn Độ đứng thứ 127 thế giới. Tình trạng nghèo khổ ở Ấn Độ cũng đáng quan tâm: 27% số người nghèo tính theo tiêu chuẩn của chính phủ, song lại là 42% nếu tính theo ngưỡng của Ngân hàng thế giới. Tuy Ấn Độ sinh ra một tầng lớp trung lưu tương đối giàu, song vẫn còn 300-400 triệu người ở dưới ngưỡng nghèo.

Bất bình đẳng xã hội và giữa các vùng gia tăng. Tỷ lệ sinh giảm khiến Ấn Độ gặp khó khăn trong việc trở thành nước đông dân nhất thế giới vào năm 2030, đứng trước Trung Quốc. Những người lạc quan nhất cho rằng Ấn Độ vẫn còn cơ hội vì có số người trong độ tuổi lao động đông nhất thế giới. Trái lại, người ta cũng lo ngại điều gì sẽ xảy ra nếu có quá nhiều người Ấn Độ đổ xô đi tìm việc làm.

Hệ thống đẳng cấp có suy yếu do tác động của cuộc "Cách mạng thầm lặng", song lại trở thành một công cụ huy động chủ yếu: huy động tìm việc làm, huy động chính trị với sự lớn mạnh của các đảng đại diện cho người nghèo, từ đó đưa Ấn Độ vào thời của các chính phủ liên hiệp vì không một chính đảng lớn nào có thể một mình lãnh đạo.

Các vấn đề nội tại cũng thể hiện ở cuộc chơi nghị viện. Một số chính khách đã phải trả giá cho sự khác biệt giữa một nước Ấn Độ mới nổi và một nước Ấn Độ xa xưa. Song dân chủ nghị viện lại đóng vai trò điều hòa: dân chủ nghị viện làm nhụt chí những người đưa ra cải cách quá cực đoan hay được áp đặt theo "kiểu Trung Quốc"; dân chủ nghị viện đôi khi giúp những kẻ mị dân thiết lập cơ sở bầu cử cho mình, song về lâu dài cũng bảo đảm có được đồng thuận tối thiểu. Các nhà đầu tư nước ngoài muốn thúc đẩy nhanh quá trình tự do hóa. Một số nhà quan sát cho rằng để đối phó với Trung Quốc, Ấn Độ phải sử dụng đa số dân chủ mới bảo đảm duy trì sự trỗi dậy của mình trong một thời gian dài được.

Nước Ấn Độ nào cho tương lai?

Một nước Ấn Độ trước đây được mô tả như một vùng đất của những sự đối nghịch đã sống lại nhờ các cuộc cải cách đang diễn ra. Đất nước của hàng nghìn nông dân tự vẫn cũng là đất nước đã thực hiện thành công chuyến thám hiểm mặt Trăng vào năm 2008. Ấn Độ đang tìm kiếm chiến lược cho một "cuộc cách mạng luôn luôn xanh", thân thiện với môi trường hơn, đồng thời, trong chương trình hạt nhân của mình, tìm cách chế ngự thorium có nhiều ở trong nước hơn urani. Tóm lại, sự tương phản giữa xếp hạng Tổng sản phẩm quốc nội và xếp hạng Chỉ số Phát triển Con người là thách thức có ý nghĩa nhất mà Ấn Độ phải vượt qua.

Liệu có thể coi Ấn Độ là một "cường quốc nghèo" như đã từng được áp dụng với Nga cách đây khoảng 15 năm không? Chưa thể kết luận được. Điều chắc chắn là Ấn Độ lớn mạnh trước khi thực sự vượt qua thách thức nghèo khổ. Nếu thành công, Ấn Độ chứng minh được rằng dân chủ chính trị có thể chứng minh một nước có số dân gần bằng 1/6 dân số thế giới bứt lên được. Kinh nghiệm đó không thể so sánh được với kinh nghiệm của những "con rồng châu Á" nhỏ hơn nhiều. Hiện chưa đến thời điểm đó, song sự thức tỉnh của Ấn Độ hiện đang góp phần đưa châu Á vào cuộc chơi của thế giới.

Châu Âu thống trị được là nhờ có thời Phục hưng, các phát minh vĩ đại, triết lý của anh em Lumières, cuộc cách mạng công nghiệp, rồi thời kỳ thực dân hóa, song cuối cùng phải nhường chỗ cho Mỹ thống trị vì châu Âu kiệt quệ sau hai cuộc chiến tranh thế giới. Ngày nay, trong khi Mỹ vẫn là cường quốc hàng đầu thế giới, nhưng cũng là nước nợ nần nhiều nhất, tình thế mới đang xuất hiện trong lúc sự vượt trội của phương Tây đang sang trang. Trung Quốc và Ấn Độ đã từng chiếm một phần lớn Tổng sản phẩm quốc nội của thế giới vào đầu thế kỷ 18. Theo nghĩa đó, sự trỗi dậy của hai nước này cũng là sự hồi sinh và sự hồi sinh đó khiến ta nghĩ đến việc điều chỉnh trật tự hiện nay. Người ta nói đến một "thế giới hậu-Mỹ" là ở chỗ đó. Mỹ không sụp đổ, song một thế giới được chia sẻ đang dần dần xuất hiện. Hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 càng thúc đẩy theo hướng phát triển đó, vì các nước châu Á đã bật lên nhanh hơn châu Âu và Mỹ, những nước đang phải nhọc nhằn biến thời kỳ hậu suy thoái thành tăng trưởng thực sự.

Trong thế giới đa cực hiện nay, đâu là vị trí và hình ảnh của Ấn Độ ? Hiện nay, nước này đang chuyển động mà không từ bỏ lập trường trước đây của mình. Chủ nghĩa dân tộc Hinđu cứng rắn tuy có tạo dấu ấn ở Ấn Độ song không thắng được ở một nước đang điều chỉnh truyền thống, giữ lại giá trị của những cha đẻ sáng lập, đặc biệt là Nehru. Trong các "ý tưởng" của Ấn Độ đang được đưa lên bàn cân, mẫu hình Nehru về cơ bản vẫn đúng đắn nhất. Ứng dụng vào thời mới, mẫu hình đó tìm cách kết hợp quan tâm đến độc lập dân tộc với mở cửa ra thế giới bên ngoài.

Có thể nói rằng nước Pháp với 62 triệu dân - tương đương với một trong số 27 bang của Liên hiệp Ấn Độ- vẫn lớn gấp 2 lần Tổng sản phẩm quốc nội của Ấn Độ về USD. Song cách tính đó có nguy cơ thiển cận vì sự lớn mạnh của các nước mới nổi lớn - đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin - đặt ra vấn đề châu Âu đáp trả sự năng động toàn cầu đó như thế nào. Liên minh châu Âu, cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới, đứng trước cả Mỹ, đối tác thương mại hàng đầu của Ấn Độ, tuy có Hiệp ước Lixbon, song vẫn chưa phải một tác nhân chiến lược tương xứng với sức nặng kinh tế cũng như gia tài trí tuệ của mình. Đứng trước "giấc mơ Ấn Độ", "giấc mơ châu Âu" xem ra kém giá trị hơn nhiều.

read more
 

free counters

Followers